Xét Nghiệm Bệnh Bạch Hầu / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Zqnx.edu.vn

Bạch Cầu Là Gì? Tất Cả Những Gì Cần Biết Về Xét Nghiệm Bạch Cầu.

Bạch cầu là gì?

Các bạch cầu lưu hành bao gồm các BC đoạn trung tính, BC lympho, BC mônô (monocyte), BC đoạn ưa acid và BC đoạn ưa bazơ. Tất cả các tế bào máu (bao gồm bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu) đều có nguồn gốc từ một tế bào gốc chung (stem cell). Bạch cầu được sinh ra trong tuỷ xương và bị phá huỷ ở lách, các bạch cầu thực hiện các chức năng chính của mình tại các mô trong cơ thể.

Ở người, chức năng chính của BC là giúp cơ thể chống đỡ lại các tác nhân ngoại lai (Vd: vi khuẩn). Chức năng chống đỡ này được thực hiện nhờ 2 cơ chế:

Thực bào (phagocytosis): Được các BC hạt (granulocytes) và bạch cầu mônô (monocytes) đảm nhiệm. Có ba typ bạch cầu hạt là bạch cầu đoạn trung tính (neutrophil), BC đoạn ưa acid (eosinophil) và BC đoạn ưa bazơ (basophil).

Sản xuất các kháng thể: Được các BC lympho và tương bào (plasmocyt) đảm nhiệm.

Quá trình thực bào thường được tạo thuận lợi thêm nhờ sự hiện diện của các kháng thể chống lại các kháng nguyên được thực bào.

Sản xuất kháng thể đôi khi cần tới quá trình thực bào trước đó của kháng nguyên.

Bạch cầu đoạn trung tính

Bạch cầu đoạn trung tính là loại tế bào bạch cầu đầu tiên có mặt tại vùng viêm của cơ thể. Nó thực hiện chức năng làm sạch các mảnh tế bào tại vùng tổn thương nhờ quá trình thực bào. Bạch cầu đoạn trung tính có đời sống kéo dài khoảng 4 ngày. Có thể nhận dạng được các bạch cầu trưởng thành nhờ biểu hiện “phân đoạn”. Các bạch cầu đoạn trung tính chưa trưởng thành không có biểu hiện “phân đoạn” này (thường được gọi là bạch cầu đũa [“band” hay “stabs”]). Trong trường hợp xẩy ra quá trình nhiễm trùng cấp, cơ thể phản ứng nhanh bằng cách giải phóng cả các bạch cầu chưa trưởng thành (một hiện tượng được biết dưới tên bạch cầu đoạn trung tính “chuyển sang trái” [“shift to the left”]). Nếu tình trạng nhiễm trùng hay viêm được giải quyết và các bạch cầu đoạn trung tính chưa trưởng thành được thay thế bằng các bạch cầu trưởng thành, sự quay trở lại trạng thái bình thường này được gọi là tình trạng “chuyển sang phải” (“shift to the right”).

là loại tế bào bạch cầu đầu tiên có mặt tại vùng viêm của cơ thể. Nó thực hiện chức năng làm sạch các mảnh tế bào tại vùng tổn thương nhờ quá trình thực bào. Bạch cầu đoạn trung tính có đời sống kéo dài khoảng 4 ngày. Có thể nhận dạng được các bạch cầu trưởng thành nhờ biểu hiện “phân đoạn”. Các bạch cầu đoạn trung tính chưa trưởng thành không có biểu hiện “phân đoạn” này (thường được gọi là bạch cầu đũa [“band” hay “stabs”]). Trong trường hợp xẩy ra quá trình nhiễm trùng cấp, cơ thể phản ứng nhanh bằng cách giải phóng cả các bạch cầu chưa trưởng thành (một hiện tượng được biết dưới tên bạch cầu đoạn trung tính “chuyển sang trái” [“shift to the left”]). Nếu tình trạng nhiễm trùng hay viêm được giải quyết và các bạch cầu đoạn trung tính chưa trưởng thành được thay thế bằng các bạch cầu trưởng thành, sự quay trở lại trạng thái bình thường này được gọi là tình trạng “chuyển sang phải” (“shift to the right”).

Bạch cầu đoạn ưa acid

Các bạch cầu đoạn ưa acid đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế chống đỡ đối với các nhiễm ký sinh trùng. Chúng cũng có chức năng thực bào đối với các mảnh tế bào, song ở mức độ ít hơn so với bạch cầu đoạn trung tính và chỉ ở các giai đoạn muộn của quá trình viêm. Bạch cầu đoạn ưa acid cũng tham gia vào các phản ứng viêm.

Bạch cầu đoạn ưa bazơ

Các bạch cầu đoạn ưa bazơ giải phóng histamin, bradykinin và serotonin khi bị hoạt hóa bởi tình trạng tổn thương hay nhiễm trùng. Các chất nói trên có vai trò quan trọng đối với quá trình viêm do chúng làm tăng tính thấm mao mạch và vì vậy làm tăng dòng máu tới vùng bị tổn thương. Các bạch cầu đoạn ưa bazơ cũng tham gia vào quá trình đáp ứng dị ứng. Ngoài ra, các hạt trên bề mặt của bạch cầu đoạn ưa bazơ tiết ra chất chống đông tự nhiên là heparin.

Bạch cầu mônô

Các bạch cầu mônô (monocyte) có đời sống kéo dài nhiều tháng và thậm chí nhiều năm và không được coi là các tế bào thực bào nếu chúng lưu hành trong dòng tuần hoàn. Tuy nhiên, sau khi có mặt tại các mô một vài giờ các bạch cầu mônô sẽ chín và chuyển thành đại thực bào (macrophage), khi đó chúng thực sự là các tế bào thực bảo.

Bạch cầu miễn dịch

Các bạch cầu miễn dịch bao gồm các bạch cầu lympho T (T Lymphocytes) hay tế bào T (T cells) và bạch cầu lympho B (B Lymphocytes) hay tế bào B. Các tế bào này trưởng thành tại các mô lympho và di chú giữa máu và hạch bạch huyết. Các bạch cầu lympho có đời sống kéo dài từ nhiều ngày tới nhiều năm tùy thuộc vào typ tế bào.

Việc đếm số lượng BC có thể được thực hiện:

Hoặc bằng phương pháp đếm thủ công: Hoà loãng máu và đếm các BC trong buồng đếm, sau khi đã phá huỷ các HC.

Hoặc bằng phương pháp tự động: Sử dụng máy đếm tự động.

Cách lấy mẫu xét nghiệm bạch cầu

Ống xét nghiệm huyết học: Máu được chống đông bằng EDTA và bảo quản ở 4°c, nếu không thể tiến hành xét nghiệm ngay.

Lam máu (frottis sanguin): nhuộm May – Grunwald – Giemsa đề xác định công thức BC và để phát hiện các bất thường hình thái có thể xẩy ra.

Giá trị bình thường của xét nghiệm bạch cầu

Trẻ nhỏ

Khi mới sinh: 9.000 – 30.000/mm3 hay 9,0 – 30,0 X 109/L.

8 ngày: 5.000 – 20.000/mm3 hay 5,0 – 20,0 X 109/L.

1 tháng: 5.000 -18.000/mm3/zạy 5,0 – 18,0 X 109/L. 1 tuổi: 5.000 – 16.000/mm3 hay 5,0 – 16,0 X 109/L.

4 tuổi: 5.000 – 15.000/mm3/2ay5,0 – 15,0 X 109/L. 4 đến 8 tuổi: 5.000 – 14.000/mm3 hay 5,0 – 14,0 X 109/L.

8 đến 16 tuổi: 4.500 – 13.000/mm3 hay 4,5 – 13,0 X 109/L.

Người lớn: 4.500 – 10.500/mm3 hay 4,5 – 10,5 X 109/L.

Khi có thai

3 tháng đầu: 5.000 – 15.000/mm3 hay 5,0 – 15,0 X 109/L.

3 tháng giữa và cuối: 6.000 – 16.000/mm3 hay 6,0 – 16,0 X 109/L. –

Sau đẻ: 4.500 – 12.000/mm3 hay 4,5 – 12,0 X 109/L.

Khi nghỉ: 4.000 – 10.000/mm3 hay 4,0 – 10,0 X 109/L.

Gắng sức nhẹ: 4.000 – 11 .ooo/mm3 hay 4,0 – 11,0 X 109/L.

Gắng sức mạnh: 4.000 – 15.000/mm3 hay 4,0 – 15,0 X 109/L.

Bạch cầu tăng khi nào?

Tăng bạch cầu đoạn trung tính khi nào(Neutrophylia)

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Các nhiễm trùng do vi khuẩn (nhất là các nhiễm trùng cấp sinh mủ).

Nhiễm khuẩn huyết.

Các ổ nhiễm trùng sâu:

Viêm nội tâm mạc.

Viêm xương.

Viêm xoang.

Viêm tuyến tiền liệt.

Ung thư hoại tử hay bị apxe hoá.

Hoại tử mô (Vd: phẫu thuật, bỏng, nhồi máu cơ tim).

Các tình trạng tăng sinh tủy xương phàn ứng hay tăng sinh tủy ác tính mạn tính.

Sản giật.

Cơn gout cấp.

Cơn bão giáp.

Ngộ độc hóa chất, thuốc, nọc độc.

Dùng corticoid.

Cơn tan máu cấp.

Do stress (tâm thần, thực thể).

Viêm mạch (Vasculitis).

Tăng bạch cầu đoạn ưa bazơ khi nào?

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Một số bệnh da.

Bệnh thủy đậu.

Bệnh lơ xê mi kinh dòng hạt.

Viêm xoang mạn.

Sau xạ trị.

Sởi.

Các rối loạn sinh tủy.

Phù niêm.

Sau cắt lách.

Bệnh đậu mùa.

Viêm đại tràng loét (ulcerative colitis).

Tăng bạch cầu đoạn ưa acid khi nào?

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Bệnh Addison.

Bệnh dị ứng.

Ung thư phổi, dạ dày, buồng trứng.

Bệnh lơxêmi kinh dòng hạt.

Bệnh Hodgkin. S

au xạ trị.

Các nhiễm ký sinh trùng (Vd: bệnh nhiễm giun xoắn).

Thiếu máu ác tính Biermer.

Đa hồng cầu tiên phát.

Viêm khớp dạng thấp.

Bệnh sốt tinh hồng nhiệt (scarlet fever).

Xơ cứng bì.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Viêm đại tràng loét.

Tăng bạch cầu lympho khi nào?

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Bệnh Addison.

Bệnh lơ xê mi kinh dòng lympho.

Bệnh Crohn.

Nhiễm trùng do cytomegalovirus.

Tăng quá mẫn với thuốc.

Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng.

Ho gà.

Bệnh huyết thanh (serum sickness).

Nhiễm độc giáp.

Nhiễm toxoplasmosis.

Sốt thương hàn.

Viêm đại tràng loét.

Các bệnh lý do virus (Vd: quai bị, bệnh rubeon, sởi, viêm gan siêu vi, thủy đậu…).

Tăng bạch cầu mônô khi nào?

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Bệnh Brucelle (bệnh sốt Malta, bệnh do brucellose).

Các bệnh lý viêm mạn tính.

Viêm đại tràng loét mạn tính.

Bệnh Hodgkin.

Các rối loạn sinh tủy.

Viêm nội tâm mạc bán cấp do vi khuẩn.

Giang mai.

Lao.

Các nhiễm virus.

Giảm bạch cầu khi nào?

Giảm bạch cầu đoạn trung tính khi nào?

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Các tốn thương tuỷ xương

Xâm nhiễm do di căn ung thư (Vd: vú, phổi, đại tràng, dạ dày, tiền liệt, thận).

Đa u tuỷ xương.

Xơ hoá tuỷ xương.

Bệnh lơ xê mi.

Do thiếu acid folic hay vitamin B12.

Do chất độc:

Xạ trị.

Hoá trị liệu.

Kháng sinh (chloramphenicol, sulfamid).

Thuốc giảm đau (phenylbutazon, aminopyrin).

Thuốc kháng giáp trạng (Vd: PTƯ).

Colchicin.

Muối vàng.

Benzen.

Cường lách

Xơ gan.

u lympho.

Bệnh tự miễn (Vd: viêm đa khớp mạn tính tiến triển, bệnh luput ban đỏ).

Bệnh sarcoidose (sarcoidosis).

Sốt rét.

Bệnh Kala-azar.

Các nhiễm khuẩn

Virus.

Thương hàn.

Bệnh do brucella.

Bệnh do rickettsia.

Sau dùng một số thuốc (do có kháng thể chống bạch cầu)

Pyramidon.

Methyldopa.

Phenylbutazon.

Aminopyrin.

Giảm bạch cầu đoạn ưa bazơ khi nào?

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Nhiễm trùng cấp.

Bệnh basedow.

au xạ trị.

Có thai.

Shock.

Tình trạng stress.

Vỏ thượng thận bị kích thích (adrenocortical stimulation).

Giảm bạch cầu đoạn ưa acid

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Kích thích vỏ thượng thận.

Bệnh Cushing.

Nhiễm trùng nặng.

Shock.

Tình trạng stress.

Chấn thương.

Giảm bạch cầu lympho

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

Lao cấp.

Kích thích vỏ thượng thận.

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS).

Thiếu máu bất sản (aplastic anemia).

Suy tim ứ huyết.

Bệnh u lympho Hodgkin.

Sau xạ trị.

u lymphosarcom.

Cơn nhược cơ toàn thể.

Suy thận.

Tình trạng stress.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Giảm bạch cầu mônô

Các nguyên nhân chính thường gặp là: Phản ứng stress cấp.

Các yếu tố góp phần làm thay đối kết quả xét nghiệm

Tình trạng stress, phấn kích, hoạt động thể lực và chuyển dạ đẻ có thế gây tăng số lượng bạch cầu đoạn trung tính.

Các tình trạng stress có thể làm giảm số lượng bạch cầu đoạn ưa acid.

Các thuốc có thể làm tăng số lượng bạch cầu đoạn trung tính là: Endotoxin, adrenalin, heparin, histamin, steroid.

Các thuôc có thê làm giám số lượng bạch cầu đoạn trung tính là: Thuốc giam đau, kháng sinh, thuốc điều trị ung thư, thuốc kháng giáp trạng, phenothiazin, Sulfonamid.

Các thuốc có thè làm tăng số lượng bạch cầu đoạn ưa bazơ là: Thuốc kháng giáp trạng.

Các thuốc có thê làm giảm so lượng bạch cầu đoạn ưa bazơ là: Thuốc điều trị ung thư, glucocorticoid.

Các thuốc có thè làm tăng số lượng bạch cầu đoạn ưa acid là: Digitalis, heparin, penicillin, propranolol hydrochlorid, strepto­ mycin, tryptophan.

Các thuốc có the làm giảm số lượng bạch cầu đoạn ưa acid là: Corticosteroid.

Các thuốc có thê làm giảm so lượng bạch cầu lympho là: Thuốc điều trị ung thư, corticosteroid.

Các thuốc có thể làm giảm số lượng bạch cầu mô nô là: Thuốc điều trị ung thư, corticosteroid.

Lợi ích của xét nghiệm đếm công thức BC

xét nghiệm không thể thiếu được trong bảng tổng kê khi tiến hành thăm dò trước một tình trạng:

xét nghiệm cho phép xác định các bệnh nhân có tình trạng mất BC và giúp điều trị các bệnh nhân này bằng kháng sinh phố rộng trong trường hợp có nhiễm trùng hay nhiễm khuẩn máu.

xét nghiệm cho phép phân biệt:

Hội chứng viêm có kèm tăng BC giúp định hướng chẩn đoán tới:

Một nhiễm trùng do vi khuẩn.

Một ổ nhiễm trùng sâu (Vd: viêm nội tâm mạc, viêm xương).

Một ung thư bị hoại tử hay bị apxe.

Hội chứng viêm không kèm tăng BC giúp gợi ý nhiều tới:

Bệnh tự miễn.

Viêm động mạch (panarterite) (Vd: viêm nút quanh động mạch, bệnh Horton).

Ung thư không hoại tử.

Một số nhiễm trùng (Vd: do virus, lao, thương hàn).

Trong trường hợp đa hồng cầu, thấy tăng BC và TC gợi ý bệnh đa hồng cầu tiên phát (bệnh Vaquez), trái lại khi số lượng BC bình thường giúp hướng tới bệnh đa hồng cầu thứ phát.

Các cảnh báo lâm sàng

số lượng bạch cầu và số lượng bạch cầu đoạn ưa acid có xu hướng giảm thấp hơn vào buổi sáng và tăng cao hơn vào buổi chiều tối. Vì vậy khi muốn xét nghiệm theo dõi diễn biến số lượng bạch cầu, cần tiến hành lấy máu xét nghiệm vào cùng thời gian trong ngày ở các lần xét nghiệm kế tiếp để bảo đảm việc so sánh kết quả được chính xác.

Xét Nghiệm Bệnh Giang Mai

Để giúp bạn đọc được tiếp cận với nguồn thông tin chính xác, đầy đủ về các phương pháp xét nghiệm tìm ra bệnh giang mai, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với các chuyên gia đến từ phòng khám đa khoa 52 Nguyễn Trãi.

CÁC PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM TÌM RA BỆNH GIANG MAI CHUẨN XÁC

Giang mai diễn biến phức tạp, có thời điểm tiềm ẩn hầu như không có biểu hiện lâm sàng khiến nhiều người lầm tưởng bệnh có thể tự “biến mất”.

Tuy nhiên, trên thực tế, xoắn khuẩn đang âm thầm tấn công vào mạch máu, thần kinh,…và có thể dẫn đến tử vong khi chuyển sang giai đoạn cuối.

Từ đó, kịp thời có những biện pháp điều trị tốt nhất, phòng tránh những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.

Có rất nhiều phương pháp xét nghiệm giang mai hiện nay bao gồm:

Xét nghiệm kiểm tra giang mai bằng kính hiển vi

Đây là phương pháp xét nghiệm giang mai thường áp dụng cho trường hợp mắc bệnh giang mai ở giai đoạn đầu, khi vi khuẩn chưa đi vào máu và cơ thể chưa sinh ra kháng thể, nhiễm xoắn khuẩn giang mai từ 10 – 90 ngày.

Các bác sĩ sẽ lấy các thương tổn hay mẫu phẩm ở các vị trí có mầm bệnh như ở các vết loét, săng giang mai, các nốt trên da, dịch ở cơ quan sinh dục đem đi soi trên kính hiển vi để tìm ra xoắn khuẩn giang mai.

Thông thường, ở bước xét nghiệm này, bác sĩ sẽ lấy mẫu phẩm từ dịch âm đạo của nữ giới hoặc dịch niệu đạo ở nam giới để xem đi xét nghiệm.

Xét nghiệm giang mai dịch não tủy

Phương pháp này được áp dụng chủ yếu với những bệnh nhân bị giang mai giai đoạn cuối. Khi đó, xoắn khuẩn đã ăn sâu vào bên trong hệ thần kinh trung ương.

Xét nghiệm dịch não tủy vô cùng quan trọng đối với những bệnh nhân bị giang mai thần kinh .

Vì vậy, nếu kết quả xét nghiệm giang mai dương tính, cần phải điều trị và theo dõi diễn biến của bệnh. Đồng thời, nên làm xét nghiệm mỗi tháng 1 lần để đánh giá tình trạng sức khỏe một cách chính xác nhất.

Xét nghiệm giang mai bằng phản ứng RPR và TPHA

Xét nghiệm RPR (Rapid Plasma Reagin) là xét nghiệm sàng lọc kháng thể giang mai trong máu. Cơ chế của xét nghiệm này như sau:

Khi xoắn khuẩn giang mai xâm nhập vào cơ thể của bệnh nhân. Như một phản ứng tự nhiên, cơ thể sẽ sản sinh ra một loại kháng thể nhằm ngăn chặn sự tồn tại và phát triển của loại vi khuẩn này.

Chính vì vậy, chỉ cần thông qua xét nghiệm kiểm tra xem có tồn tại kháng thể kháng giang mai trong máu hoặc dịch não tủy không là có thể nhận biết được nguy cơ mắc bệnh giang mai.

Xét nghiệm RPR

Nếu xét nghiệm giang mai RPR âm tính thì có nghĩa là bạn không bị giang mai. Ngược lại, nếu RPR dương tính thì có thể bạn đã mắc bệnh.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do cơ thể không tạo ra kháng thể nên dù RPR âm tính vẫn có thể bị giang mai. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mà xoắn khuẩn chưa ăn sâu vào trong máu nên kết quả xét nghiệm RPR sẽ bị sai lệch.

Ngoài ra, trong một số trường hợp RPR dương tính giả do ung thư, phụ nữ mang thai, phản ứng đặc biệt của cơ thể, rối loạn miễn dịch, tuổi tác… Xét nghiệm RPR còn có thể dùng để theo dõi quá trình điều trị giang mai.

Xét nghiệm TPHA là phương pháp kiểm tra sự hiện diện của kháng thể giang mai trên huyết tương của bệnh nhân. Cơ chế của phương pháp này là dựa trên nguyên lý ngưng kết.

Theo đó, các bác sĩ sẽ cho tế bào hồng cầu được gắn với kháng nguyên xoắn khuẩn giang mai tiếp xúc với huyết tương của bệnh nhân. Nếu có phản ứng ngưng kết thì có thể kết luận là bị mắc bệnh giang mai.

Xét nghiệm TPHA

Xét nghiệm TPHA và RPR được đánh giá là hai loại xét nghiệm hiện đại cho kết quả chính xác. Tuy nhiên, hai phương pháp này đòi hỏi trình độ y bác sĩ có tay nghề cao, trang thiết bị tiên tiến.

Vì vậy, không phải cơ sở y tế nào cũng có đủ điều kiện để thực hiện.

Xét nghiệm giang mai VDRL

Xét nghiệm giang mai VDRL là phương pháp xét nghiệm được nhiều người lựa chọn hiện nay. Các bác sĩ sẽ tiến hành lấy máu của người bệnh ở tĩnh mạch sau đó sử dụng các thiết bị chuyên dụng.

Cơ chế của phương pháp xét nghiệm này cũng giống như phương pháp xét nghiệm giang mai RPR. Tức là cũng tìm các kháng thể mà cơ thể tạo ra để chống lại tác nhân gây bệnh. Kháng thể này là một loại Protein được tạo ra bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể.

Tuy nhiên, phương pháp xét nghiệm giang mai VDRL này không phải khi nào cũng chuẩn xác. Các chuyên gia thường chỉ thực hiện phương pháp xét nghiệm giang mai sau 3 tháng thì mới có thể tìm thấy kháng thể chống bệnh.

Xét nghiệm nước ối để phát hiện giang mai

Đối với phụ nữ mang thai, nếu nghi ngờ xoắn khuẩn giang mai tấn công lây nhiễm sang cho thai nhi thì bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm nước ối.

Phương pháp này được thực hiện bằng cách lấy mẫu nước ối rồi đem soi trên kính hiển vi.

Trẻ sơ sinh khi sinh ra từ người mẹ giang mai nếu xét nghiệm RPR cho kết quả dương tính (+) thì cần phải làm thêm xét nghiệm TPHA.

Nếu kết quả cho chỉ số RPR cao hơn mẹ, cao hơn gấp 4 lần thì có khả năng cao đứa trẻ đó bị nhiễm bệnh giang mai từ người mẹ của mình hay còn được gọi là giang mai bẩm sinh .

XÉT NGHIỆM BỆNH GIANG MAI Ở ĐÂU CHUẨN XÁC VÀ TIN CẬY?

Phòng khám đa khoa 52 Nguyễn Trãi là một trong nhưng cơ sở y tế tư nhân hàng đầu hiện nay tại Hà Nội về xét nghiệm bệnh giang mai.

Nơi đây đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần có của một địa chỉ xét nghiệm bệnh giang mai tại Hà Nội uy tín, tin cậy:

Phòng khám được các cấp chính quyền, ban ngành có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động, xác nhận đủ điều kiện để tiến hành xét nghiệm giang mai.

Kỹ thuật viên trực tiếp lấy máu, mẫu bệnh phẩm,… và tiến hành làm xét nghiệm có chuyên môn giỏi, có nhiều kinh nghiệm thực tế.

Hệ thống máy móc xét nghiệm tự động, hiện đại được trang bị đầy đủ, đảm bảo kết quả xét nghiệm bệnh giang mai luôn có độ chuẩn xác cao, nhanh chóng.

– Quy trình thăm khám, xét nghiệm đều được cam kết bảo mật tuyệt đối:

Danh tính và kết quả xét nghiệm được bảo mật tuyệt đối.

Mẫu xét nghiệm được xử lý 100% tại phòng xét nghiệm theo tiêu chuẩn quy định khắt khe của Bộ Y tế.

Linh hoạt trong thời gian lấy mẫu, không mất thời gian chờ đợi.

Bác sĩ tư vấn miễn phí trước và sau khi có kết quả xét nghiệm.

Với những thông tin chia sẻ vừa rồi, mong rằng đã giúp bạn đọc có thể thông tin về việc các phương pháp xét nghiệm phát hiện ra bệnh giang mai, cũng như lựa chọn chính xác địa chỉ tiến hành tại Hà Nội.

Chăm Sóc Trẻ Bệnh Bạch Hầu

Bạn biết gì về bệnh bạch hầu Là một bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do trực khuẩn bạch hầu Corynebacterium diphtheria và dễ lây lan qua đường hô hấp hoặc gián tiếp tiếp xúc với vi khuẩn. Với các triệu chứng ban đầu như viêm thanh quản, nổi hạch dưới hàm, bệnh có thể biến chứng thành viêm phổi, suy tim, dẫn đến tử vong trong vòng 6-10 ngày.

Vi khuẩn bạch hầu lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp nên tốc độ lây lan rất nhanh, có thể xâm nhập qua da tổn thương gây bạch hầu da. Sau khoảng 2 tuần nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân đã có thể lây nhiễm cho người khác.

Đối tượng dễ mắc bệnh bạch hầu? Bệnh bạch hầu thường xuất hiện trong những tháng lạnh ở vùng ôn đới. Bệnh có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch, nhất là trẻ dưới 15 tuổi chưa được gây miễn dịch đầy đủ dễ bị mắc bệnh.

Bệnh nhân mắc bạch hầu sau khi khỏi bệnh sẽ không bị mắc lại vì cơ thể được miễn dịch lâu dài.

Kháng thể miễn dịch của mẹ truyền sang con có tác dụng miễn dịch bảo vệ và thường sẽ hết tác dụng trước 6 tháng tuổi. (1)

Bệnh nhân có thể có dấu hiệu khó thở, khó nuốt. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày. Trường hợp bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn tiếng, khó thở, rối loạn nhịp tim, liệt.

Bạch hầu thanh quản là thể bệnh nặng ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng bị nhiễm ngoại độc tố

Bạch hầu tại chỗ là giả mạc và biểu hiện toàn thân là nhiễm độc thần kinh, làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên và thần kinh cảm giác và/hoặc viêm cơ tim. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày.

TRẦN HỒ TRUNG TÍN – PHÒNG ĐIỀU DƯỠNGBỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ

Bệnh Bạch Hầu Ở Trẻ Em

Bệnh bạch hầu là bệnh cấp tính có giả mạc ở họng, lây lan thành dịch nhỏ. Bệnh xuất hiện ở những em chưa tiêm phòng vắcxin bạch hầu hay tiêm không đủ liều vào lứa tuổi trẻ em và thiếu niên. Phát hiện bệnh, chữa muộn dễ tử vong cao do liệt các cơ hô hấp.

Nguyên nhân do trực khuẩn Corynebacterium diphteriae gam dương lây bằng đường hô hấp và đường gián tiếp qua đồ chơi, quần áo mang mầm bệnh.

Biểu hiện lâm sàng: bạch hầu thông thường, bạch hầu ác tính và bạch hầu thanh quản.

Bạch hầu thông thường.

Thời gian ủ bệnh: từ 2-5 ngày kể từ ngày mầm bệnh xâm nhập qua đường hô hấp.

Thời kì khởi phát bệnh: bệnh nhi sốt nhẹ 38-38,5°c, họng đỏ, xuất hiện giả mạc trên amidan, màu trắng ngà, bóng, dai, dính, khó bóc và lan nhanh ở lưỡi gà. Niêm mạc họng xuất huyết. Bệnh nhi chảy nước mũi một bên hay 2 bên. Hạch ở góc hàm to, đau, đỏ và khó nuốt.

Ngoáy họng tìm thấy trực khuẩn bạch hầu

Thời kì toàn phát: toàn trạng nhiễm độc, da xanh, người mệt, quấy khóc, bỏ chơi, bỏ ăn, mạch nhanh, nước tiểu ít, có protein.

Bạch hầu ác tính.

Thời kì khởi phát: dữ dội, sốt cao 39-40°C. Bệnh nhi nôn khan, nôn nhiều lần. Giả mạc ở họng màu xám đen, dày dễ chảy máu. Nếu bóc dễ tái tạo lại nhanh, phủ trên amidan, lưỡi gà, thành sau họng. Niêm mạc dưới lưỡi hơi phù nề, xuất huyết. Hạch 2 góc hàm sưng. Lưỡi bật ra phía trước. Hạch 2 góc hàm sưng to, đau, viêm quanh amidan làm cho cố bành ra. Mũi chảy mủ loãng có lẫn máu. Mũi loét có giả mạc.

Nói giọng mũi, khó nuốt, miệng hôi. Màn hầu bị liệt gây nên ăn uống sặc lên mũi.

Toàn trạng nhiễm độc nặng, sốt cao, da xanh tái nhợt, người mệt mỏi, xuống sức, tim đập nhanh, huyết áp hạ, tiêu chảy, gan to, tiểu ít, nước tiểu có protein. Xuất hiện xuất huyết ở da, chảy máu cam, chảy máu chân răng. Bệnh nhân tử vong sau vài ngày.

Một số trường hợp các dấu hiệu trên lui dần, nhưng nhiễm độc vẫn tồn tại gây liệt màn hầu, vòm họng, viêm cơ tim, toàn thân nặng hơn.

Bạch hầu thanh quản

Bệnh này gặp trẻ 2-5 tuổi sau khi bị bạch hầu thông thường, điều trị không đúng phương pháp hay để quá muộn, giả mạc lan tràn xuống thanh quản, thể hiện 3 giai đoạn:

Giai đoạn khó thở: bệnh nhi khó thở chậm ở thì thở vào, co kéo trên xương ức, trên xương đòn, tiếng rít do hẹp thanh môn, phải đặt nội khí quản.

Giai đoạn ngạt thở: không điều trị đúng phương pháp, không đặt nội khí quản dẫn đến khó thở nhanh nông. Da tái nhợt nhạt. Mạch nhanh nhỏ.Tứ chi lạnh, vã mồ hôi, hôn mê và tử vong.

Phòng ngừa là tiêm phòng văcxin bạch hầu đủ liều, tránh không tiếp xúc với người bệnh bạch hầu, không dùng đồ chơi, quần áo nhiễm trực khuân bạch hầu.

Lớp mẫu giáo không nhận những học sinh mang bệnh bạch hầu.

Điều trị bệnh bạch hầu tại bệnh viện theo phác đồ: Bạch hầu thông thường:

Huyết thanh kháng bạch hầu 20000-40000 đơn vị.

Giải độc tố bạch hầu 1/10ml tiêm dưới da nơi khác. Ba ngày sau tiêm 1/2ml, 5 ngày sau tiêm 1,2,3ml.

Penicilline 1000000-2000000 đơn vị/ngày, dùng 7 ngày.

Vitamin C 1gam/ ngày

Bạch hầu nặng, đến muộn: ác tính.

Huyết thanh kháng bạch hầu 40000-80000 đơn vị.

Giải độc tố bạch hầu ngày đầu tiêm dưới da nơi khác l/10ml. Ba ngày sau l/2ml, 5 ngày sau tiêm 1,2,3

Penicilline 2000000 đơn vị/ ngày, dùng 5 ngày, lúc no.

Bệnh nhi nằm bất động đến khi hết dấu hiệu nhiễm độc.

Bạch hầu thanh quản.

Huyết thanh kháng bạch hầu 40000-80000 đơn vị.

Giải độc tố bạch hầu: ngày đầu tiêm dưới da nơi chưa tiêm huyết thanh kháng bạch hầu 1/10ml. Ba ngày sau tiêm l/2ml, 5 ngày sau tiêm 1, 2, 3 ml.

Penicilline 2000000 đơn vị/ ngày, dùng 7 ngày.

Prednisolon 5mg X 4viên, chia 2 lần/ ngày, dùng 5 ngày lúc no.

Đặt nội khí quản hay mở khí quản.

Bệnh nhi nằm bắt động khi dấu hiệu nhiễm độc hết.

Nâng cao thể lực cho bệnh nhi bằng ăn nhiều chất đạm, uống nhiều sữa, uống vitamin, ăn nhiều quả chín cam, dưa hấu, nhãn, na, chuối, đu đủ..