Triệu Chứng Thiếu Máu Huyết Tán / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Zqnx.edu.vn

Nguyên Nhân Gây Thiếu Máu Tán Huyết, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Thiếu Máu Tán Huyết / 2023

Thiếu máu tán huyết di truyền

Ba mẹ truyền bệnh cho con cái hoặc cả ba và mẹ đều không mang gen bệnh nhưng có đột biến gen xảy ra trong quá trình thai nhi được hình thành.

Có một số loại bệnh thiếu máu tán huyết do di truyền khác nhau, với mức độ nghiêm trọng khác nhau. Các bệnh thiếu máu tán huyết do di truyền thường gặp là bệnh hồng cầu hình cầu, bệnh hồng cầu hình bầu dục và bệnh thiếu men G6PD.

Đây là một rối loạn di truyền, gây ra bởi các khuyết tật ở màng hồng cầu tạo nên bề mặt hình cầu, khác với hình dạng bình thường của hồng cầu là hai mặt lõm. Những hồng cầu hình cầu này mỏng manh hơn, nhỏ hơn bình thường và không thay đổi hình dạng, bị tổn thương và vỡ sớm tại lách dẫn đến thiếu máu.

Đây là một rối loạn di truyền, là biến thể hiếm gặp của bệnh hồng cầu hình cầu, chủ yếu gặp ở người Đông Nam Á.

Đây là một rối loạn di truyền, gặp ở những người không có đủ men G6PD (glucose-6-phosphate dehydrogenase).

Men G6PD là một trong nhiều loại men giúp các chuyển hóa hóa học, biến đường thành năng lượng. Men này bảo vệ các tế bào hồng cầu, giúp tế bào chống lại các tác động bên ngoài như chống lại tình trạng oxy hóa. Quá trình oxy hóa có thể phá hủy các cấu trúc quan trọng trong các tế bào hồng cầu, như hemoglobin, tạo ra những trở ngại trong lưu thông và vận chuyển oxy gây ra phá hủy hồng cầu, dẫn đến thiếu máu.

Các yếu tố nguy cơ gây tán huyết ở bệnh nhân thiếu men G6PD:

Thuốc chống sốt rét: primaquine, chloroquine

Thuốc giảm đau: aspirin

Sulfonamide: sulfacetamide, sulfamethoxazole, sulfanilamide, sulfamylon

Các thuốc khác: methylene blue, nitrofurantoin, …

Thiếu máu tán huyết mắc phải

Cơ thể không bị thiếu máu từ lúc sinh ra, mà bị mắc bệnh trong quá trình sống.

Có nhiều nguyên nhân gây ra thiếu máu tán huyết mắc phải, có loại chỉ gây thiếu máu trong thời gian ngắn, có loại dẫn đến mãn tính và tái phát theo thời gian.

Nguyên nhân gây thiếu máu tán huyết mắc phải:

Nhiễm trùng, có thể do siêu vi hay vi khuẩn

Thuốc như penicillin, thuốc chống sốt rét hoặc acetaminophen

Bệnh lý tự miễn như lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp hoặc viêm loét đại tràng

Một số loại khối u

Van tim cơ học có thể phá hủy hồng cầu khi hồng cầu được vận chuyển ra khỏi tim đến các mô và cơ quan

Phản ứng truyền máu nặng

Khi mắc bệnh thiếu máu tán huyết di truyền, người bệnh cần:

Có chế độ ăn uống giàu sắt, folate, vitamin B12, vitamin C

Bổ sung vitamin tổng hợp nếu cần

Phòng tránh sốt rét

Xem xét tư vấn di truyền

Nguyên Nhân, Triệu Chứng Thiếu Máu Thiếu Sắt / 2023

Cung cấp sắt thiếu

Cung cấp sắt thiếu chủ yếu là do chế độ ăn thiếu sắt, dinh dưỡng không đúng cách, trẻ không bú sữa mẹ mà ăn sữa động vật, mẹ ăn kiêng khi đang cho con bú, (vì sắt trong sữa mẹ được hấp thu tốt khoảng 49%, trong khi sắt trong sữa bò chỉ được hấp thu 10 %). Cho trẻ ăn dặm quá trễ hoặc cho trẻ ăn không đủ chất, cho trẻ ăn kiêng khi bị bệnh kéo dài. Trong bữa ăn hàng ngày thiếu thức ăn nguồn gốc động vật. Trẻ ăn bột nhiều và kéo dài (trong bột có acid phytic và các phosphat gây giảm hấp thu Fe).

Những trẻ đẻ non, thiếu cân lúc đẻ hoặc do sinh đôi, lượng sắt dự trữ được cung cấp qua tuần hoàn nhau thai ít và những người mẹ có tiền sử chảy máu trước đẻ, thiếu máu thiếu sắt không cung cấp đủ sắt cần thiết cho thai nhi dẫn đến bé bị thiếu máu, thiếu sắt từ lúc mới sinh.

Hấp thu sắt kém

Trẻ có thể mắc các bệnh lí của đường tiêu hoá làm giảm khả năng hấp thụ sắt như: giảm độ toan dạ dày, suy dinh dưỡng, ỉa chảy kéo dài (làm ruột không hấp thu được thức ăn), hội chứng kém hấp thụ, dị dạng dạ dày – ruột, cắt dạ dày, bệnh celiac, nhiễm giun sán.

Mất sắt quá nhiều

Mất máu nhiều thường do các nguyên nhân chảy máu từ từ, mạn tính như các bệnh ở đường tiêu hoá (giun móc, loét dạ dày tá tràng, polyp ruột, trĩ), chảy máu cam, chảy máu sinh dục tiết niệu. Sắt chứa trong các tế bào máu đỏ, vì vậy nếu mất máu sẽ mất đi một số lượng sắt.

Nhu cầu sắt cao hơn lượng được cung cấp

Khi nhu cầu sắt tăng mà không được cung cấp sắt kịp thời, thường là giai đoạn cơ thể lớn nhanh,trẻ đẻ non, thấp cân, tuổi dậy thì, phụ nữ có thai… Lúc này sẽ rất dễ xảy ra thiếu máu.

Khi mang thai, hầu hết phụ nữ thường không có đủ lượng sắt dự trữ, nhất là ở 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ. Thiếu máu sẽ làm tăng nguy cơ đẻ non, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở cả mẹ và con. Vì vậy, ngoài chế độ dinh dưỡng tốt trong thời kỳ mang thai, người mẹ cần bổ sung thêm sắt, B12, axit folic để giúp tăng cường quá trình tạo máu.

Trẻ em thiếu cân và sinh non, trẻ dưới 5 tuổi cũng có nguy cơ bị thiếu máu rất cao. Theo các chuyên gia, trong những năm đầu đời trẻ cần nhiều sắt cho quá trình tăng trưởng và tạo máu. Tuy nhiên do chế độ ăn hàng ngày của trẻ không cung cấp đầy đủ hay mất cân bằng các chất dinh dưỡng. Bên cạnh đó, khi mang thai, nguy cơ người mẹ thiếu máu khá cao nên sinh ra các thế hệ trẻ thiếu máu.

Đối với trẻ vị thành niên, đặc biệt là vào giai đoạn dậy thì, cơ thể các em đang phát triển rất nhanh nên cần nhiều chất dinh dưỡng hơn, đặc biệt là chất sắt để tạo máu. Các em gái tuổi dậy thì dễ bị thiếu máu thiếu sắt nếu sợ mập và ăn kiêng hoặc bị mất máu qua kinh nguyệt. bên cạnh đó nhiều nghiên cứu cho thấy lượng sắt từ bữa ăn của người Việt Nam chỉ thỏa mãn 30-50% nhu cầu về chất này.

Chế độ ăn uống thiếu hụt, thừa chất này, thiếu chất kia trong các bữa ăn hàng ngày, lứa tuổi vị thành niên cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều của chứng bệnh thiếu máu, đặc biệt là nữ giới thường bị mất một lượng máu trong chu kỳ kinh nguyệt.

3. Triệu chứng thiếu máu thiếu sắt

Thiếu sắt là một bệnh hệ thống ảnh hưởng tới nhiều chức năng của các bộ phận. Bệnh thường xảy ra từ từ, thường ở trẻ từ 6 tháng , có thể xuất hiện sớm từ tháng thứ 2 – 3 ở trẻ đẻ non. Biểu hiện đầu tiên của trẻ thiếu máu là mệt mỏi, hay chóng mặt ù tai, ít hoạt động, da xanh xao, niêm mạc nhợt từ từ, số lượng hồng cầu giảm ít.. Nếu thiếu máu kéo dài, không được điều trị, thiếu máu nặng có thể biểu hiện tim to, khó thở, nhịp tim nhanh, nghe tim có tiếng thổi tâm thu.

Trẻ chậm phát triển cân nặng, chậm phát triển cơ thể. Ở tuổi học đường trẻ thường học chậm, kém tập trung. Thiếu máu kéo dài làm móng tay, móng chân nhợt, bẹt hoặc lõm, có khía, dễ gãy.

Biểu hiện ở tiêu hóa khá nhiều, trẻ kém ăn hay bị rối loạn tiêu hóa, lưỡi bị viêm, mất gai lưỡi, có thể có biểu hiện khó nuốt. Ở dạ dày có biểu hiện viêm, teo niêm mạc dạ dày và giảm độ toan dạ dày. Ở ruột có biểu hiện viêm ruột xuất tiết, teo một phần niêm mạc ruột, giảm hấp thu ở ruột.

Các triệu chứng do giảm sắt ở cơ (Myoglobin): Giảm trương lực cơ, giảm khả năng gắng sức, chậm biết ngồi, biết bò, biết đi.

Các triệu chứng rối loạn thần kinh do giảm sắt ở các men làm trẻ quấy khóc, ăn kém, ngủ ít ở trẻ nhỏ, trẻ lớn hay bị nhức đầu, chóng măt, ù tai, hay quên, kém minh mẫn.

4. Biến chứng của thiếu máu thiếu sắt

Ở tình trạng bình thường, thiếu máu thiếu sắt không gây ra biến chứng. Nhưng nếu bị nặng có thể gây ra một số biến chứng không tốt. Thiểu máu sẽ làm nhịp tim nhanh hoặc bất thường vì tim phải bơm máu nhiều hơn để cung cấp oxy trong máu khi đang bị thiếu máu. Những người bị động mạch vành nếu không kiếm soát được có thể gây đau thắt ngực.

Phụ nữ mang thai dễ bị sinh non, sinh con nhẹ cân và hệ quả kéo theo là những trẻ này thường bị thiếu máu thiếu sắt.

Ở trẻ sơ sinh và trẻ em, thiếu sắt dẫn đến thiếu máu và làm chậm quá trình tăng trưởng. Không đượcc điều trị kịp thời có thể dẫn đến sự chậm trễ về thể chất và tâm thần ở trẻ trong các hoạt động như đi bộ, chạy nhảy, nói chyện. Ngoài ra nó cũng làm tăng khả năng nhiễm độc chì và nhạy cảm với các nhiễm trùng hơn.

Bài viết đã đăng ký bản quyền nội dung số.Mọi sao chép phải tuân thủ quy định của NKB

Triệu Chứng Lâm Sàn Bệnh Thiếu Máu / 2023

Tuy nhiên, cũng có trường hợp thiếu máu giả tạo do máu bị hòa loãng và do tăng thể tích huyết tương; trong trường hợp này mặc dù tỉ lệ huyết cầu tố, số lượng hồng cầu và dung tích hồng cầu ký hiệu là Hct (hematocrit) đều giảm nhưng vẫn không được xác định tình trạng thiếu máu do khối lượng toàn bộ huyết cầu tố lưu hành trong máu vẫn ở mức giới hạn bình thường.

Thiếu máu do tan máu: có thể do bệnh tật của bản thân hồng cầu như: hồng cầu hình cầu di truyền, hồng cầu hình bầu dục có tính gia đình, hồng cầu hình gai bẩm sinh hoặc mắc phải, phospholipid của màng hồng cầu không bình thường, bệnh do pH triệt tiêu, bệnh Marchiafava Micheli; hoặc do men hồng cầu bất thường, thiếu hụt men glucose 6 phosphat và những men khác của chuyển hóa đường 5, thiếu hụt men pyruvatkinase và những men khác của chu trình chuyển hóa tiêu đường chính; hay do huyết cầu tố bất thường, hồng cầu hình lưỡi liềm, huyết cầu tố không ổn định; hoặc do những bất thường khác với sự thiếu hụt các dây globin, bệnh thalassemia thường gọi là bệnh thiếu máu vùng biển. Ngoài ra, sự tan máu còn do những yếu tố bất thương ngoài hồng cầu như: do thiếu máu miễn dịch, đồng miễn dịch, tự miễn, dị ứng hoặc thiếu máu tan máu do nguyên nhân cơ học ở những người mang van tim và van huyết quản nhân tạo, do bệnh vi mạch; thiếu máu tan máu do vi khuẩn, ký sinh trùng; thiếu máu do hóa chất…

Thiếu máu do sự bất thường trong sinh sản hồng cầu: với các nguyên nhân gồm: số lượng hồng cầu không đủ như bị suy tủy xương toàn bộ, tủy xương bị xâm lấn bởi các tế bào ác tính; suy đơn thuần dòng hồng cầu, thiếu máu do viêm. Chất lượng hồng cầu không tốt từ sự tổng hợp DNA như thiếu máu hồng cầu khổng lồ, thiếu máu Biermer. Tổng hợp huyết cầu tố không tốt do sự sinh tổng hợp các dây globin rối loạn thalassemia. Thiếu sắt với thiếu máu nhược sắc thiếu sắt. Sắt sử dụng trong các nguyên hồng cầu bị rối loạn như thiếu máu tăng hồng cầu sắt, phân phối sắt không đều. Thiếu máu do viêm, chuyển vận sắt bị rối loạn. Bệnh thiếu máu còn do rối loạn bẩm sinh nguyên hồng cầu và các nguyên nhân phức tạp khác như: ung thư, xơ gan, bệnh nội tiết, suy thận. Ngoài ra, còn có hiện tượng thiếu máu giả tạo như: máu bị pha loãng, cường lách với hồng cầu bị ứ lại trong lách.

Hậu quả của bệnh thiếu máu phụ thuộc vào cách xuất hiện, mức độ nặng nhẹ và khả năng thích nghi của cơ thể. Trong trường hợp mất máu cấp tính, hậu quả chủ yếu là giảm thể tích kết hợp với giảm oxy máu dẫn đến sốc mất máu. Trong trường hợp tan máu cấp tính, cơ chế cũng xảy ra tương tự. Trong trường hợp mất máu từ từ, thể tích máu được duy trì do tăng thể tích huyết tương. Ở người bình thường và khỏe mạnh; thể tích máu toàn thể đối với nam từ 65 – 75ml/kg cân nặng, đối với nữ từ 62 – 70ml/kg cân nặng; thể tích hồng cầu đối với nam từ 27 – 33ml/kg cân nặng, đối với nữ từ 23 – 28ml/kg cân nặng. Khi thiếu máu, áp lực oxy trong mô giảm, huyết cầu tố giải phóng oxy cho mô tế bào dễ dàng hơn và nhờ đó nên những người thiếu máu nhẹ có thể chịu đựng được, không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Khi thiếu máu, có sự phân phối máu ưu tiên cho não, tim và cơ để điều chỉnh sự phân phối máu. Trong trường hợp thiếu máu nặng, cơ chế tăng lưu lượng tim cho phép tăng sự trao đổi oxy với mô tế bào biểu hiện triệu chứng lâm sàng có tiếng thổi tâm thu. Đồng thời cơ thể tăng sinh sản erythropoietin trong khả năng tăng sinh hồng cầu để đáp ứng với tình trạng giảm oxy.

Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán

Các triệu chứng lâm sàng phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng thiếu máu và khả năng thích nghi của cơ thể. Tuổi càng cao thì sự thích nghi của cơ thể càng khó khăn. Tim thường đập nhanh hơn nhất là khi gắng sức. Nếu thiếu máu nhiều sẽ xuất hiện tiếng thổi nghe được ở mỏm tim và ở van động mạch phổi. Trường hợp thiếu máu kéo dài và nặng sẽ làm cho tim to thêm do tăng liên tục lưu lượng tim. Nhịp thở nhanh. Tất cả những triệu chứng này sẽ lui dần khi lượng huyết cầu tố trở lại bình thường.

Ở bệnh nhân thiếu máu thấy da thường xanh, niêm mạc nhợt, rõ nhất ở lòng bàn tay và niêm mạc dưới lưỡi. Khi mức độ thiếu máu quá nặng thấy da óng ánh vàng, trường hợp này cần phân biệt với dấu hiệu vàng da do bệnh gan. Móng tay và đầu ngón tay có thể khô đét do sự phân phối lại máu.

Các cơ quan và mô tế bào thiếu oxy cũng bị suy nhược. Tùy theo tuổi tác và thể lực, bệnh nhân có những biểu hiện khác nhau. Trên thực tế thường thấy cùng tình trạng thiếu máu như nhau nhưng ở người trẻ chỉ bị suy nhược, trái lại ở người cao tuổi thì có thể bị suy tim. Ở những người cao tuổi ít hoạt động, hậu quả sẽ xảy ra chậm; đối với những người trẻ hoạt động nhiều, hậu quả biểu hiện rõ nét hơn.

Biểu hiện khó thở khi gắng sức cũng như lúc nghỉ ngơi là một triệu chứng thường gặp ở những người thiếu máu nặng, đặc biệt trong những trường hợp thiếu sắt vì sắt ảnh hưởng chung đến toàn bộ chuyển hóa tế bào. Ở trẻ em, nếu bị thiếu máu kéo dài như suy dinh dưỡng năng lượng, mắc bệnh thalassemia thì sự phát triển thể lực rất hạn chế; cần phải truyền máu để cải thiện phần nào tình trạng suy kiệt của bệnh nhân.

Chẩn đoán xác định bệnh thiếu máu phải căn cứ vào một vài chỉ số của hồng cầu như: thể tích trung bình của hồng cầu, nồng độ huyết cầu tố trung bình của hồng cầu, lượng huyết cầu tố trung bình của hồng cầu. Thể tích trung bình của hồng cầu bình thường từ 88 – 100µm 3. Nồng độ huyết cầu tố trung bình của hồng cầu bình thường ở người lớn từ 320 – 350g/l. Lượng huyết cầu tố trung bình của hồng cầu bình thường ở người lớn từ 28 – 32pg. Điểm xuất phát để chẩn đoán bệnh thiếu máu là căn cứ vào huyết đồ hay công thức máu vì trong thực tế khi thiếu máu được xác định theo định nghĩa đã được nêu trên thì việc chẩn đoán cơ chế và phần lớn nguyên nhân có thể tương đối dễ dàng bằng cách phân tích đúng một số thông tin.

Điều trị

Như trên đã nêu, bệnh thiếu máu do lượng huyết cầu tố (hemoglobin) của hồng cầu bị giảm sút. Điều này bao gồm một hội chứng lâm sàng và sự giảm sút số lượng hồng cầu trong 1mm 3. Vì vậy, không nên bắt đầu điều trị bệnh thiếu máu chỉ dựa vào xét nghiệm đếm số lượng hồng cầu, không bao giờ điều trị bệnh thiếu máu khi chưa có chẩn đoán xác định và chưa rõ nguyên nhân vì điều trị bệnh thiếu máu không phải là trường hợp cấp cứu. Cần thực hiện các xét nghiệm cần thiết để xác định, phải thận trọng khi chẩn đoán chưa rõ ràng thì chưa truyền máu hoặc sử dụng sắt, vitamin B 12 … cho người bệnh vì sẽ gây khó khăn trong chẩn đoán nguyên nhân. Không nên truyền máu nếu chỉ dựa vào số lượng hồng cầu thấp mà chưa tìm hiểu kỹ người bệnh đã có tiền sử truyền máu hay chưa và có chịu đựng được hay không; đồng thời cũng không vội vàng cho thuốc bổ và thuốc chống thiếu máu vì sẽ gây trở ngại cho việc chẩn đoán. Lưu ý rằng không có một phương pháp điều trị chung cho các loại bệnh thiếu máu mà mỗi loại bệnh thiếu máu có một cách chữa trị riêng.

Lưu ý trước khi xác định chẩn đoán để điều trị, cần phải thực hiện đủ 5 xét nghiệm cần thiết ở bệnh nhân như: huyết đồ, phiến đồ máu, dung tích hồng cầu (hematocrit), định lượng huyết cầu tố và tủy đồ. Căn cứ vào 5 xét nghiệm này, có thể chẩn đoán được bản chất của tình trạng thiếu máu hoặc định hướng cho những xét nghiệm khác phức tạp hơn như sắt huyết thanh, bilirubin máu, đông máu, miễn dịch, đồng vị phóng xạ… Sau khi chẩn đoán xác định, việc điều trị sẽ tác động đến những nguyên nhân trực tiếp như: thiếu máu do mất máu cấp tính, thiếu máu do mất máu mạn tính; thiếu máu do tan máu gồm thiếu máu tan máu bẩm sinh, thiếu máu tan máu mắc phải, thiếu máu tan máu kịch phát ban đêm Marchiafava – Micheli, thiếu máu tan máu tự miễn; thiếu máu trong suy tủy, thiếu máu dai dẳng.

Theo Suckhoedoisong

Cùng Chuyên Mục

Bình Luận Facebook

Thiếu Máu Cơ Tim: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Điều Trị Thiếu Máu Cơ Tim / 2023

1. Thiếu máu cơ tim là gì?

Thiếu máu cơ tim là bệnh xảy ra khi mạch vành bị hẹp hoặc tắc nghẽn không cung cấp đủ oxy và dưỡng chất cần thiết để tim duy trì hoạt động sống. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi trung niên, nếu không điều trị kịp thời để bệnh kéo dài quá lâu các mô tim sẽ dẫn chết có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh.

2. Nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim

Nguyên nhân dẫn đến thiếu máu cơ tim:

Hơn 90% trường hợp xác định thiếu máu cơ tim là do mảng xơ vữa trong lòng mạch máu làm cản trở lưu thông máu. Khi lượng cholesterol tăng cao trong máu kết hợp thêm nhiều chất khác dần tạo thành mảng xơ vữa.

Ngoài ra béo phì và sự lão hóa của cơ thể cũng là nguyên nhân phổ biến làm xơ cứng mạch vành. Béo phì làm tăng sự tích tụ mảng bám, người lớn tuổi mạch máu cũng dần suy yếu chức năng trở nên kém đàn hồi.

Nguy cơ mắc phải thiếu máu cơ tim:

– Tiền sử gia đình có bệnh tim mạch.

– Tuổi cao.

– Tiền sử tiền sản giật, huyết cao thai kỳ.

– Sử dụng thuốc lá.

– Stress, căng thẳng lâu ngày.

– Vận động thể chất quá sức.

– Chảy máu cấp.

– Người mỡ máu cao.

– Bệnh tăng huyết áp.

– Bệnh tiểu đường.

– Người mắc bệnh rối loạn nhịp tim.

– Sử dụng bia, rượu, các chất kích thích.

3. Triệu chứng thiếu máu cơ tim

Thiếu máu cơ tim có hai biểu hiện: Đau ngực và không đau ngực.

– Biểu hiện không đau ngực: thường không có triệu chứng đặc biệt việc phát hiện ra bệnh là nhờ vô tình đi đo điện tâm đồ. Đây còn được gọi là thiếu máu cơ tim im lặng, người bệnh thường chủ quan bỏ qua dễ dẫn đến nhồi máu cơ tim và đột tử.

– Biểu hiện đau ngực:

⦁ Ban đầu xuất hiện đau ngực khi làm việc gắng sức khỏe lại sau khi nghỉ ngơi nhưng càng về sau đau ngực nhiều hơn ngay cả khi không vận động gì. Nếu cơn đau xuất hiện lúc nghỉ ngơi tức là báo hiệu tình trạng bệnh đã khá nặng cần tích cực điều trị sớm để tránh biến chứng nguy hiểm.

⦁ Dấu hiệu đau thường là cảm giác đau ở ngực trái vùng trước tim, ngực bị đè nén, cơn đau lan đến cổ, vai, cánh tay trái.

⦁ Cơn đau kéo dài trong vài phút nếu quá 15 – 20 phút bệnh nhân cần nghĩ đến trường hợp nhồi máu cơ tim cần cấp cứu.

⦁ Triệu chứng khác: khó thở, đổ mồ hôi, buồn nôn, lo âu, hoa mắt, chóng mặt, ho, nhịp tim nhanh.

Biến chứng của thiếu máu cơ tim:

– Gây loạn nhịp tim: do xung điện tim bị ảnh hưởng khiến tim đập quá nhanh hoặc quá chậm.

– Tổn thương mô cơ tim lâu dài dẫn đến suy tim.

– Nhồi máu cơ tim: tỉ lệ gây tử vong cao.

4. Điều trị thiếu máu cơ tim

Phương pháp chẩn đoán bệnh thiếu máu cơ tim:

– Thăm khám triệu chứng lâm sàng, hỏi tiền sử bệnh.

– Điện tâm đồ (ECG): bác sĩ sẽ nhận biết ra bệnh nhờ một số triệu chứng bất thường trên điện tâm đồ.

– Siêu tâm tim: giúp bác sĩ xác định khu vực tim đã tổn thương.

– Chụp động mạch vành: cung cấp hình ảnh mạch máu.

– Chụp cắt lớp vi tính (CT): giúp xác định xem mạch máu có bị vôi hóa hay không.

– Thử nghiệm gắng sức.

Phương pháp điều trị thiếu máu cơ tim cục bộ:

– Bệnh nhân cần thay đổi thói quen sinh hoạt như: từ bỏ thuốc lá, hạn chế bia rượu, ăn nhạt, cắt giảm chất béo không tốt, rèn luyện thể thao phù hợp,…

– Điều trị nội khoa bằng thuốc dựa trên tình trạng sức khỏe bệnh nhân, triệu chứng biểu hiện và mức độ thiếu máu cơ tim bác sĩ sẽ kê toa phù hợp. Một số thuốc như Aspirin, Clopidogrel, nhóm Nitrate, nhóm ức chế beta, nhóm ức chế canxi, nhóm ức chế men chuyển ACE,…

– Điều trị ngoại khoa: khi sử dụng thuốc không còn mang lại nhiều hiệu quả. Một số phương pháp thường dùng như nong động mạch vành, bắc cầu động mạch vành, phẫu thuật tái tạo.

5. Điều trị thiếu máu cơ tim

Những phương pháp giúp phòng ngừa thiếu máu cơ tim:

– Loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây bệnh như thuốc lá, bia rượu, chất kích thích, chất béo, thức ăn quá mặn, đồ thực phẩm chế biến sẵn.

– Kiểm soát cân nặng ở mức hợp lí.

– Kiểm soát huyết áp, mỡ máu, đường huyết ổn định.

– Vận động thể thao hợp lí phù hợp với sức khỏe.

– Nếu trong gia đình có tiền sử bệnh tim mạch bạn cần đi kiểm tra sức khỏe định kỳ để có thể phát hiện sớm bệnh thiếu máu cơ tim mang lại hiệu quả điều trị cao hơn.