Triệu Chứng Đau Dây Thần Kinh Cổ / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Zqnx.edu.vn

Đau Dây Thần Kinh Cổ

Đau dây thần kinh cổ là tình trạng rối loạn cảm giác ở các dây thần kinh vùng cổ, vai, gáy,…Thông thường, người bệnh sẽ có cảm giác đau mỏi và tê bì khó chịu ở vùng cổ, xương khớp. Tình trạng đau sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn khi bệnh có chuyển biến nặng. Đau dây thần kinh cổ sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, gây ra sự khó chịu và đau đớn cho người bệnh.

Nguyên nhân và biểu hiện đau dây thần kinh cổ

Nguyên nhân chính gây ra tình trạng chèn ép, gây tổn thương lên dây thần kinh cổ gồm có:

Nguyên nhân từ lối sống:

Tình trạng đau và căng cơ do ngồi sai tư thế, ngồi quá lâu trong thời gian dài hay lười vận động.

Hoạt động quá sức như mang vác vật nặng, gây gia tăng áp lực lên vùng cổ.

Tác động mạnh và đột ngột lên cùng cổ khiến các cơ và dây thần kinh căng lên.

Nguyên nhân từ các bệnh lý:

Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ: Phần đĩa đệm giữa các đốt sống có xu hướng lồi nhân nhầy trong bao xơ ra ngoài, hình thành khối thoát vị. Khối này sẽ gây ra các cơn đau bởi đè lên dây thần kinh và chèn ép các bộ phận xung quanh.

Thoái hóa đốt sống cổ: Đây là căn bệnh thường gặp nhất trong các bệnh về xương khớp . Người bệnh sẽ gặp tình trạng xương khớp, đặc biệt ở vùng cổ và lưng nhanh chóng bị tàn phá, dễ dàng tổn thương và dẫn đến các cơn đau.

Gai cột sống cổ: Khi các bộ phận quanh đốt sống cổ gặp tác động, cơ thể sẽ lắng tụ canxi để bù đắp cho sự tổn thương này. Tuy nhiên điều này có thể gây ra tình trạng gai cột sống, chèn ép lên vùng dây thần kinh và gây ra đau đớn cho người bệnh.

Khu vực cổ gáy là nơi chứa nhiều loại dây thần kinh do đó biểu hiện của cơn đau dây thần kinh cổ ở mỗi người là khác nhau. Trong đó, phổ biến nhất có hai loại đó là đau dây thần kinh cổ trái và đau dây thần kinh cổ phải. Trường hợp hiếm sẽ có người đau ở cả 2 bên cổ và vai gáy. Những biểu hiện cụ thể của đau dây thần kinh cổ:

Cơn đau âm ỉ hoặc đau nhói ở vùng cổ, vai gáy và cả phần lưng trên. Cơn đau có thể lan xuống vùng cánh tay, gây tê bì và rối loạn cảm giác ở các ngón tay.

Cử động cổ gặp nhiều khó khăn, không linh hoạt, đặc biệt đau khi cử động mạnh.

Khi sờ hoặc ấn nhẹ vào vùng da ở vị trí đau sẽ cảm nhận được cơn đau rõ ràng.

Cơn đau tăng lên hoạt động nhiều và liên tục, đau khi hắt hơi và khi vừa ngủ dậy.

Một số dấu hiệu khác như hoa mắt, chóng mặt, ù tai,…do lượng máu lưu thông giảm.

Điều trị đau dây thần kinh cổ

Khi gặp dấu hiệu đau dây thần kinh cổ, bạn nên đến bệnh viện để được chẩn đoán bệnh và xác định rõ nguyên nhân, vị trí tổn thương. Trong quá trình sử dụng theo đơn của bác sĩ, bạn có thể kết hợp với một số phương pháp điều trị sau để đạt được kết quả tối ưu.

Xoa bóp: Các động tác xoa bóp giúp máu lưu thông hiệu quả hơn do đó làm dịu các cơn đau rất tốt.

Vận động nhẹ nhàng: Người bệnh có thể tự tập các bài vận động cổ nhẹ nhàng ngay tại nhà để hạn chế sự thoái hóa (nguyên nhân chính gây ra đau thần kinh cổ)

Biện pháp trị liệu dân gian: Một số bài thuốc dân gian như đắp ngải cứu rang muối, dùng gấc ngâm rượu cũng có tác dụng chữa đau dây thần kinh cổ vai gáy khá tốt. Ngoài ra châm cứu và bấm huyệt cũng có tác dụng giãn cơ, giảm đau nhức tức thời.

Thay đổi sinh hoạt: Bạn cần ngồi và nằm đúng tư thế, tránh đè nén lên vùng thần kinh cổ quá mức. Khi ngủ tránh kê gối quá cao hay quá cứng. Bạn cũng nên tập thể dục thường xuyên, không nên ngồi một chỗ quá lâu. Bên cạnh đó giữ tinh thần thoải mái, tránh căng thẳng cũng là phương pháp hỗ trợ trị liệu khá hiệu quả.

Đau dây thần kinh cổ là một tình trạng khá quen thuộc đối với nhiều người. Hy vọng những thông tin trong bài viết trên đã giúp các bạn hiểu hơn về tình trạng này, nguyên nhân, biểu hiện cũng như phương pháp điều trị hiệu quả.

Đau Dây Thần Kinh Hông To

– Dây thần kinh hông to là dây thần kinh to và dài nhất cơ thể.

– Được cấu tạo bởi 2 rễ chính là rễ L5 và S1 và các rễ phụ L4, S2, S3

– Thần kinh hông to đi từ chậu hông qua khớp xương cùng chậu, qua lỗ khuyết hông của xương chậu để vào mông, xuống đùi, kheo, rồi chia làm hai nhánh.

+ Nhánh trước ngoài: đi dọc trước ngoài cẳng chân, xuống mắt cá, chia nhiều nhánh chi phối mu chân, ngón cái và hai ngón 2, 3.

+ Nhánh sau trong: đi sau cẳng chân. Xuống gót chân, chi phối gan bàn chân và hai ngón 4, 5.

2.Nguyên nhân

2.2. Thoái hoá đốt cột sống thắt lưng: gai đốt sống; hay biến dạng bẩm sinh cột sống.

2.3. Viêm dính cột sống, thấp khớp, lao cột sống, ung thư cột sống…

2.4. U trong khung chậu như u xơ tử cung, u nang buồng trứng…

3. Triệu chứng lâm sàng

3.1. Triệu chứng chức năng

3.1.1. Đau: Là dấu hiệu chủ yếu, thường xuất hiện sau gắng sức nặng, bệnh nhân đột ngột đau vùng thắt lưng, đau một bên lan xuống mông, mặt sau đùi, kheo, bắp chân, bàn chân. Đau có thể dữ dội, liên tục làm cho bệnh nhân không đi đứng, không quay trở được; có thể đau ít, tiến triển từ từ, nằm thì đỡ đau, khi vận động đau tăng lên.

Có khi bệnh xuất hiện dần dần sau gắng sức nhiều lần và liên tục.

3.1.2. Rối loạn cảm giác: giảm hoặc mất cảm giác hoặc có cảm giác tê bì như kiến bò, hay có cảm giác như bỏng ở chân… vùng rối loạn cảm giác tuỳ theo rễ thần kinh bị chèn ép:

+ Tổn thương L5: mất cảm giác phía ngoài đùi, xuống cẳng chân, đến bàn chân vùng đó quặt vào chân đến ngón chân cái 2,3.

+ Tổn thương S1: mất cảm giác sau trong đùi, xuống cẳng chân và bàn chân hai ngón 4, 5.

3.2. Triệu chứng thực thể

-Các điểm đau Valleix: các điểm trên dây thần kinh hông to ấn vào đau tăng lên. Đặc biệt khi ấn vào cạnh đốt sống thắt lưng V, nơi xuất phát của rễ thần kinh sẽ gây đau lan khắp dây thần kinh.

-Nghiệm pháp Lasegue: Bệnh nhân nằm ngửa chân duỗi thẳng, nâng chân bệnh nhân lên từ từ đến một mức nào đó, bệnh nhân kêu đau phải co chân lại.

-Dấu hiệu Néri: Bệnh nhân ngồi 2 chân duỗi thẳng trên giường, đầu cuối về trước, đưa tay chạm ngón chân cái, dây thần kinh căng gây đau bệnh nhân gập chân lại.

-Rối loạn vận động: nếu tổn thương kéo dài, chi dưới liệt nhẹ, co duỗi kém, bàn chân và ngón chân cái không ngóc lên được.

+ Tổn thương L5: bn đi bằng ngón thì dễ, bàn chân không dạng ra được + Tổn thương S1: bn đi bằng gót thì dễ, bàn chân không khép vào

3.3. Triệu chứng XQ: phát hiện được tổn thương cột sống thắt lưng như viêm, u, chấn thương, thoái hoá đốt sống…

4. Tiến triển

Tuỳ từng nguyên nhân gây bệnh và hiệu quả điều trị. Nếu do thoát vị đĩa đệm, cố định, nghỉ ngơi, sau 2-3 tuần bệnh nhân đi được. Có trường hợp bệnh kéo dài, đau âm ỉ, tái phát khi làm việc nặng, đưa đến teo cơ, hạn chế vận động.

5.1. Giai đoạn cấp

– Nghỉ ngơi tuyệt đối: bệnh nhân nằm trên giường, kê gối dưới chân và khoeo chân.

– Thuốc giảm đau, chống viêm + Aspirin: 4-5 g/ ngày

+ Paracetamol: 1-2g/ ngày + Diclofenac: 50mg x 2 viên, ngày 2-3 lần + Indometacin: 25mg x 4-6 viên/ ngày, 2-3 lần Tiêm ngoài màng cứng: Novocain 1% x 10ml, Vitamin B12: 500 – 1000microgam…

– Thuốc giãn cơ: Mydocalm, Seduxen,…

– Quang tuyến liệu pháp:

5.2. Giai đoạn bán cấp, mạn tính

– Vật lý trị liệu pháp: chườm nóng, xoa bóp, châm cứu, ấn huyệt,…

– Chế độ sinh hoạt, lao động thích hợp.

– Phẫu thuật: Trường hợp thoát vị đĩa đệm đã điều trị nội khoa không đỡ hoặc tái phát nhiều lần ảnh hưởng đến sinh hoạt.

Đau Dây Thần Kinh Số V

1. TỔNG QUAN

Có nhiều loại đau ở mặt khác nhau nhưng mô tả đầu tiên và đầy đủ nhất là đau dây thần kinh số V của John Locke. Đây là lần đầu tiên ông điều trị cho vợ một bá tước Northumberland và là một đại sứ Anh tại Pháp vào tháng 4 năm 1677.

Vào năm 1773, John Forthergill mô tả 14 trường hợp thường gặp và nhấn mạnh đến loại đau này xảy ra đột ngột và bất ngờ được gọi là đau dây thần kinh số V, thường gặp người lớn tuổi, nữ nhiều hơn nam. Từ năm 1773, đau này (tic douloreux) được công nhận như một thực thể lâm sàng.

Đau dây thần kinh số V là một loại đau rất đặc thù, trong cơn đau thường rất nặng, xảy ra đột ngột và thường kéo dài từ vài giây cho đến không quá một phút. Đau này thường là tự phát hoặc xuất phát từ một điểm đau như cò súng (trigger spot). Đau dây thần kinh số V thường xuất hiện một bên, cũng có một số rất hiếm xuất hiện đau dây V hai bên, chiếm 3-6 % trường hợp. Những trường hợp đau hai bên không phải xuất hiện cùng một lúc mà đau một bên trong một thời gian dài rồi sau đó mới xuất hiện phía đối bên.

Đau dây thần kinh V là một triệu chứng đặc thù (không phải là một bệnh). Trên 70% đau dây V trên 70 tuổi, đau dây V cũng được liên kết với những nguyên nhân và cơ chế sinh lý bệnh khác nhau.

Với nhiều năm kinh nghiệm về điều trị đau dây thần kinh V, nhiều bệnh nhân mô tả cơn đau dây V cũng như khám xét thần kinh cẩn thận, đồng thời theo dõi bệnh nhân sau mổ hoặc điều trị nội khoa để đưa ra những kết luận về đau dây V.

Như vậy, có ba kiểu đau chính cần phân biệt:

– Đau dây V vô căn hay còn gọi là cơn đau đặc hiệu của dây V (tic douloureux)

– Đau dây V triệu chứng

– Đau mặt nhưng không điển hình của của đau dây V

Cho đến nay, nguyên nhân của đau dây V vẫn còn là điều bí ẩn

3. CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán đau dây V đặc hiệu dựa trên bệnh sử của đau. Bởi vì cũng cần phân biệt với triệu chứng đau khác ở mặt như : đau dây IX (glossopharyngeal neuralgia), đau dây thần kinh sau Herpes, hội chứng Reader, hội chứng Sluder, đau thần kinh thể gối, đau khớp thái dương hàm, đau đầu Cluster, đau thần kinh mặt sau chấn thương, đau do bệnh về răng, hốc mắt hoặc xoang.

4. ĐIỀU TRỊ: 4.1.Điều trị nội khoa:

Sử dụng thuốc chống co giật như Phenytoin (Dilantin, Di-hydan) và Carbamazepine (Tegretol). Carbamazepine là thuốc hàng đầu dùng điều trị để kiểm soát đau dây V.

Đối với bệnh nhân đau dây V thường khởi đầu điều trị bằng Carbamazepine hoặc Phenytoin với liều thấp sau đó tăng dần. Phenytoin là một loại thuốc rẻ tiền nhưng ít hiệu quả hơn Carbamazepine và tác dụng phụ cũng ít hơn so với Carbamazepine. Nếu sử dụng thuốc này có hiệu quả thì nên duy trì, nếu chưa đạt yêu cầu và có tác dụng phụ thì nên chọn loại thuốc khác, bởi vì nồng độ trong máu của thuốc này không tương quan với giảm đau. Chúng tôi đề nghị liều dùng của thuốc có thể tăng lên cho đến khi đạt đến mức giảm đau tốt nhất, nhưng theo Closer cũng khuyến cáo dùng liều cao cho đến khi có dấu hiệu ngộ độc. Theo ông ta nên dùng phối hợp cả hai loại thuốc nếu một loại không đủ giảm đau. Liều thông thường của Phenytoin là 300mg hoặc 400mg/ngày. Carbamazepine với liều khởi đầu là 100 mg hoặc 200mg/ngày sau đó tăng dần và liều tối đa có thể lên đến 1.200 mg hoặc 1.800 mg/ngày. Carbamazepine có thể gây tắc nghẽn mạch hoặc rối loạn chức năng gan. Vì vậy, khi bệnh nhân sử dụng thuốc này cần kiểm tra máu và chức năng gan định kỳ. Dù carbamazepine và Phenytoin có tác dụng giảm đau dây V ở thời kỳ đầu nhưng sau đó tác dụng giảm dần theo thời gian, đến lúc nào đó bệnh nhân cần phải phẫu thuật.

Baclofen, clonazepam và những loại thuốc khác ít có hiệu quả trong điều trị đau dây V. Nói chung, analgesic không có hiệu quả trong điệu trị đau dây V, không làm giảm cơn đau đột ngột mà cũng không gây ngủ gà và những tác dụng phụ khó chịu khác.

4.2 Điều trị ngoại khoa:

Hầu như trên 90% các bệnh nhân đau dây thần kinh số V thường khởi đầu điều trị nội khoa với 2 loại thuốc thông dụng duy nhất là Carbamazepine và Phenytoin trong một thời gian dài cho đến khi phải dùng liều cao hoặc không còn tác dụng với 2 loại trên thì người bệnh yêu cầu điều trị bằng phương pháp ngoại khoa.

Trong điều trị đau dây V bằng ngoại khoa có rất nhiều phương pháp nhưng có 2 nhóm phương pháp ngoại khoa gồm: nhóm phương pháp làm tổn thương dây V và nhóm không làm tổn thương dây V.

4.2.1 Nhóm phương pháp làm tổn thương dây V:

4.2.1.1 Phương pháp chích dọc theo đường đi dây V:

Trong 80 năm qua, nhiều tác giả sử dụng alcohol chích dọc theo đường đi dây V như dây thần kinh trên hốc mắt, dây thần kinh dưới hốc mắt, nhánh V2 hoặc nhánh V3. Nếu điều trị theo phương pháp này bệnh nhân có thể ngoại trú và phương pháp này có thể lặp lại nếu đau dây V tái phát. Với một kết quả nghiên cứu trên 1500 trường hợp từ 1912 đến 1952 mà thời gian giảm đau trung bình cho dây thần kinh trên hốc mắt là 8.5 tháng, cho dây thần kinh dưới hốc mắt là 12 tháng, nhánh V2 là 12 tháng, cho dây thần kinh V3 là 16 tháng. Bất lợi của phương pháp này là mất cảm giác tạm thời hoặc dị cảm.

4.2.1.2 Cắt dây thần kinh ngoại biên (Peripheral neurectomy):

Cắt hoặc đốt nhánh ngoại biên của dây thần kinh số V có lẽ tốt hơn chích alcohol. Khi cắt hoặc đốt, phẫu thuật viên thực hiện một cách chính xác hơn, hoàn hảo hơn và hiệu quả lâu dài hơn. Những nhánh thần kinh dễ dàng thực hiện là nhánh trên ổ mắt, nhánh trên ròng rọc, nhánh dưới ròng rọc, nhánh dưới ổ mắt và thần kinh cằm, thần kinh ổ răng dưới, thần kinh lưỡi. Grantham và Segerberg đã tổng kết nghiên cứu thời gian khỏi đau trung bình 33,2 tháng sau khi cắt thần kinh ổ mắt trên và ổ mắt dưới; Còn đối với Quinn là 26 tháng khi cắt dây thần kinh ổ mắt dưới, kết quả cắt dây thần kinh ổ răng dưới là 37 tháng, cắt dây thần kinh lưỡi là 38 tháng và cắt dây thần kinh cằm là 24 tháng. Thông thường khi cắt các dây thần kinh nêu trên chỉ cần gây tê tại chỗ và không cần nằm viện. Đôi khi một số ít trường hợp cần phải gây mê. Trong trường hợp chích alcohol vào nhánh ngoại biên dễ gây mất cảm giác và cuối cùng đau tái phát khi cảm giác phục hồi lại.

4.2.1.3 Cắt dây thần kinh số V sau hạch Gasser qua đường vào cực thái dương:

Qua đường cực thái dương nhiều tác giả như David Ferrier (1890) William Spiller (1898) và Lewillys Barker (1900) đã đề nghị phương pháp cắt rễ thần kinh V để điều trị đau dây V như là một phương pháp thường qui. Mãi đến năm 1901, Charler Frazier chọn lựa đường vào cực thái dương của Hartley -Krause để đến dây thần kinh số V và cắt dây thần kinh V sau hạch Gasser như là một phương pháp chọn lựa duy nhất có tỉ lệ tử vong và tỉ lệ rủi ro thấp nhất là 1-3 % và tỉ lệ thành công từ 95-99%, nhưng tỉ lệ tái phát cao từ 5-20 %; còn tỉ lệ rủi ro của phương pháp này cũng có ý nghĩa.

4.2.1.4. Cắt dây thần kinh V gần cầu não:

Walter Dandy là người thực hiện phương pháp cắt dây V gần cầu não qua đường vào cực thái dương để điều trị đau dây V. Với phương pháp nầy Dandy đã tách rễ cảm giác chính của dây V gần cầu não rồi cắt bán phần hoặc toàn phần rễ cảm giác đó. Điều rất ngạc nhiên của phương pháp nầy là không làm mất cảm giác giác mạc và cảm giác ở mặt sau mổ.

Vào thập niên 80, với 16 trường hợp được thưc hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy bằng phương pháp nầy cho kết quả đáng khích lệ. Tất cả hết đau ngay sau mổ và kéo dài nhiều năm sau.

Khi kính vi phẫu thuật ra đời vào thâp niên 60 cùng với kỹ thuật gây mê hiện đại hơn thì phương pháp nầy an toàn hơn. Do đó, khi các phẫu thuật viên thần kinh bộc lộ rõ dây V tại cầu não đã tìm thấy một số bất thường khác như mạch máu chèn ép dây V hoặc dây V đã bị vặn xoắn do khối u.

4.2.1.5. Phương pháp mở thông dây V:

Phương pháp mở thông dây V trong điều trị đau dây V được Sjoqvist thực hiện từ năm 1937. Phương pháp nầy cũng làm giảm đau dây V nhưng bảo tồn được chức năng cảm giác và vận động của dây V. Tuy nhiên, nó không được áp dụng rộng rãi như một vài phương pháp khác.

4.2.1.6. Nhiệt đông dây V tại hạch Gasser qua da bằng sóng radio:

Trải qua một thời kỳ dài về điều trị đau dây V, các phương pháp khác nhau từ ngoài sọ cũng như những phương pháp đi vào bên trong hộp sọ nhằm điều trị đau dây V với những kết quả đạt được cũng khác nhau. Đối với các phương pháp đi vào bên trong hộp sọ qua da để đi tới hạch Gasser và các rễ sau hạch rồi bơm từng giọt alcohol, nước nóng, phenol v.v …cũng đạt được kết quả đáng khích lệ.

Vào đầu năm 1930 Kirschner giới thiệu một phương pháp đốt điện tại hạch Gasser qua da có sự hướng dẫn của hệ thống định vị để đưa kim qua lỗ bầu dục như là một phương pháp được áp dụng rộng rãi ở Châu Âu. Phương pháp nầy chỉ kiểm soát rối loạn cảm giác ở một mức độ nào đó.

Để khắc phục kỹ thuật của Kirschner, Sweet đã giới thiệu kỹ thuật dùng sóng radio vào năm 1970 nhằm cải thiện sự kiểm soát khi nhiệt đông dây V1, V2 và V3. Vào năm 1955 White và Sweet đã tuyên bố rằng ” Nếu chích alcohol để điều trị đau dây V thì khó tránh được tổn thương giác mạc”. Trong khi đó đối với phương pháp dùng sóng radio chúng ta có thể (1) làm tổn thương V2, V3 mà không làm ảnh hưởng đến dây V1 và các cấu trúc lân cận; (2) tỉ lệ tái phát giảm rõ rệt; và tỉ lệ tử vong hầu như gần số 0. Nhưng chúng ta cũng biết rằng không có bất cứ một phương pháp nào thỏa mãn hoàn toàn điều trị đau dây V. Phương pháp lý tưởng nhất là điều trị phải an toàn và không làm rối loạn cảm giác ở mặt.

Tại khoa ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi đã tổng kết 1082 trường hợp nhiệt đông dây V tại hạch Gasser qua da bằng sóng radio từ năm 2002 đến năm 2008 với hệ thống máy Radionics để chuyển sóng radio thành nhiệt độ C để làm tổn thương nhánh dây V cần điều trị. Thông thường, tùy theo sự thích nghi của bệnh nhân nhiệt độ có thể thay đổi từ 50 độ C đến 70 độ C. Khoảng trên 95% hết đau ngay sau khi đốt. Hiện nay, phương pháp nầy cũng được áp dụng rộng rãi với tỉ lệ thành công khá cao (75% – 80%). Ưu điểm của phương pháp nầy nếu đau dây V tái phát có thể đốt lại nhiều lần. Đây là một phương pháp đơn giản, không cần gây mê cũng như không cần nằm viện, áp dụng cho mọi lứa tuổi và đôi khi có một số bệnh lý kèm theo cũng có thể thực hiện được phương pháp nầy.

Những bất lợi lớn nhất của phương pháp nầy là dị cảm và loạn cảm gây khó chịu cho người bệnh tại vùng chi phối cảm giác của dây V. Khoảng 5% có rối loạn cảm giác khó chịu, một vấn đề khác là mất phản xạ giác mạc có nguy cơ viêm giác mạc thần kinh và khả năng mù mắt. Tỉ lệ tái phát của phương pháp nầy chiếm 20% nhưng vẫn có thể đốt lập lại.

Với 1082 trường hợp nhiệt đông dây V tại hạch Gasser qua đã được thực hiện từ năm 2002 đến giữa năm 2008; Tuổi nhỏ nhất là 36 tuổi và lớn nhất là 92 tuổi, Nữ nhiều hơn nam, bên phải chiếm ưu thế hơn bên trái. Đa số là dây V3 đơn độc rồi đến V2, V3; đứng hàng thứ ba là V2 đơn thuần; Riêng dây V1 rất hiếm. Hết đau ngay sau khi nhiệt đông là 96,8%. Thời gian theo dõi trung bình 2 năm với kết quả như sau:

Theo dõi lâu dài 1082 trường hợp:

Tỉ lệ tái phát: 18%

Trong số nầy thời gian đau lâu nhất là 45 năm và ngắn nhất là 2 tháng. Biến chứng gặp trong nhiệt đông dây V qua da là dị cảm nửa mặt với mức độ khác nhau tùy theo nhiệt độ khi đốt, chiếm một tỉ lệ 34%, so với Kanpolat với kinh nghiệm 1600 trường hợp tại Thổ Nhĩ Kỳ và Affelbaum tại Mỹ với 126 trường hợp thì không khác biệt nhiều. Tỉ lệ yếu cơ nhai là 2,9% so với Kapolat là 3%, tuy yếu cơ nhai nhưng vẫn thực hiện được chức năng ăn uống và đã phục hồi tốt sau 6 tháng. Một trường hợp liệt dây VI đã hồi phục sau 8 tháng.

Với 1082 trường hợp, chúng tôi chưa có trường hợp nào viêm màng não hoặc chảy dịch não tủy so với 1600 trường hợp của Kanpolat có một trường hợp viêm màng não và hai trường hợp rò dịch não tủy.

4.2.2 Nhóm phương pháp không làm tổn thương dây V:

4.2.2.1. Phương pháp giải áp vi mạch (Microvascular decompression):

Đây là một phương pháp được áp dụng phổ biến ở các trung tâm phẫu thuật thần kinh trên thế giới và cũng là một phương pháp có hiệu quả cao nhất hiện nay với tỉ lệ tái phát thấp. Tỉ lệ thành công của phương pháp nầy tùy thuộc vào từng nhóm nghiên cứu khác nhau của nhiều tác giả.

Đa số các trường hợp quan sát trong khi mổ nhận thấy động mạch tiếp cận với dây V trong 94 trường hợp, chiếm 82,35%, tương đương với Apfelbauum với tỉ lệ 83% [ 1 ]. Động mạch tiểu não trên đơn độc chỉ 73,52% và phối hợp với động mạch tiểu não trước dưới với 7,3%. Trong số nầy có một trường hợp động mạch thân nền tiếp cận với dây V và đã giải áp vi mạch thành công như Tomasello [16], Linskey [9] đã đề cập. Trong số 197 trường hợp, chỉ có 4 trường hợp tĩnh mạch đá trên tiếp cận dây V như mô tả của Matsushima [10] và có kết quả tuyệt vời sau giải áp. Ngoài ra, có 6 trường hợp cả động mạch và tĩnh mạch tiếp cận dây V, đã được giải áp với kết quả cũng tuyệt vời.

Chúng tôi có một trường hợp tái phát sau bốn năm giải áp với kết quả tuyệt vời, chiếm tỉ lệ 2,9% so với Apfelbaum là 1% cho mỗi năm và trường hợp nầy đã nhận một phương pháp điều trị khác với nhiệt đông dây V cho kết quả tốt. Điều nầy cũng cùng quan điểm với Apfelbaum, Tronnier [2], Broggi [3]. Trong số 197 trường hợp, có 3 trường hợp không thành công do không tìm thấy bất cứ một mạch máu nào tiếp cận với dây V và sau mổ đương nhiên vẫn đau như trước mổ. Sau đó, ba trường hợp trên phải áp dụng phương pháp nhiệt đông dây V nhưng chỉ hai trường hợp kết quả tuyệt vời; trường hợp còn lại phải nhiệt đông dây V thêm 2 lần nữa nhưng cũng không thành công và phải chấp nhận dùng thuốc lâu dài với liều cao.

Đa số các trường hợp gặp ở nữ nhiều hơn nam, tỉ lệ khoảng 2:1, bên phải ưu thế hơn bên trái và đa số đau V2, V3 chiếm tỉ lệ 28,4%, điều nầy cũng phù hợp với nhận định của nhiều tác giả như Tronnier [17], Ashkan [2 ], Zakrzewska [19], Kalkanis [7], Hitotsumatsu [4], Matsushima [10 ] Rak [12]. Nghiên cứu của chúng tôi, với số liệu 197 bệnh nhân đã được đánh giá và theo dõi với thời gian trung bình 1,8 năm, với nhận xét của chúng tôi cũng phù hợp với kinh nghiệm khổng lồ của Jannetta với kết quả của 1185 trường hợp đau dây V điển hình đã được phẫu thuật giải áp vi mạch trong 20 năm mà tác giả đã báo cáo tại một trung tâm tạp chí y khoa Anh quốc.

Đa số các trường hợp trong nghiên cứu nầy đã sử dụng Carbamazepine hoặc Diphenylhydantoin từ một năm cho đến 10 năm trước khi phẫu thuật. Dĩ nhiên, liều dùng đã được tăng dần theo thời gian, thậm chí có những trường hợp phải sử dụng đến 8 viên mỗi ngày (1600mg).

Với kinh nghiệm 1082 trường hợp nhiệt đông dây V tại hạch Gasser qua da và 197 trường hợp giải áp vi mạch, chúng tôi đề nghị một số chỉ định ngoại khoa như sau:

– Đau dây V điển hình

– Thất bại trong sử dụng thuốc lâu dài để kiểm soát đau dây V

– Điều trị nội khoa không còn hiệu quả

– Khi điều trị nội khoa có hiệu quả nhưng phải sử dụng liều cao

Khi đặt vấn đề can thiệp ngoại trong đau dây thần kinh số V, cần phải phân biệt ba loại đau ở mặt:

– Đau dây thần kinh V vô căn

– Đau dây V triệu chứng

– Đau vùng mặt không điển hình

Đối với những trường hợp đau ở mặt không điển hình của đau dây V không nên đặt vấn đề can thiệp ngoại khoa.

Chính vì vậy, bất cứ một phương pháp ngoại khoa nào cũng phải đạt đến một giá trị lớn khi:

– Phẫu thuật an toàn và ít tai biến

– Tỉ lệ thành công cao

– Tỉ lệ tái phát thấp và chấp nhận được

– Tỉ lệ biến chứng thấp và chấp nhận được

Hiện nay chúng tôi đang áp dụng hai phương pháp ngoại khoa điều trị đau dây thần kinh số V như giải áp vi mạch và nhiệt đông dây V tại hạch Gasser qua da. Đây là hai phương pháp được áp dụng phổ biến trên khắp thế giới nhưng giải áp vi mạch vẫn là một phương pháp có hiệu quả cao. Trong 6 năm qua, từ năm 2002 đến cuối năm 2007 chúng tôi đã thực hiện nhiệt đông dây V với 1187 trường hợp, đạt kết quả tốt từ 75 đến 80%. Đây là một phương pháp có thể thực hiện cho mọi lứa tuổi, chỉ gây tê tại chỗ, không cần nằm viện, ít tốn kém.

Trong số 197 trường hợp đã giải áp vi mạch dây V, có 8 trường hợp vẫn còn đau ngay sau mổ và kéo dài từ 5 đến 7 ngày, sau đó hết đau hoàn toàn. Đây là những trường hợp trong lúc mổ khi quan sát có mạch máu tiếp cận với dây V rất điển hình. Ngoài ra, chúng tôi có 4 trường hợp tái phát sau giải áp vi mạch từ 2 năm đến 8 năm, các trường hợp nầy đã được mổ lại do các mạch máu trượt ra khỏi miếng Teflon rồi tiếp cận trực tiếp trở lại với dây V. Sau đó đã được bóc tách để đặt thêm miếng Teflon nhỏ khác và đã hết đau hoàn toàn ngay sau mổ.

Kết quả giải áp vi mạch tùy thuộc vào chỉ định phẫu thuật, nếu chúng ta chọn những trường đau dây thần kinh V đặc hiệu thì kết quả phương pháp nầy rất cao như trong nghiên cứu của chúng tôi; Còn nếu chúng ta chỉ định rộng rãi cho những trường hợp đau dây V mà trên lâm sàng hoàn toàn không đặc hiệu thì kết quả phẫu thuật sẽ hạn chế và tỉ lệ đạt được sẽ thấp hơn. Điều nầy cũng phù hợp với nghiên cứu của Hitotsumatsu (4).

Dựa theo bảng phân loại kết quả điều trị sau giải áp vi mạch của Apfelbaum, với 197 trường hợp đã được theo dõi đánh giá như sau:

5. Kết luận : Đau dây thần kinh số V là một loại đau rất khó chữa bằng thuốc. Do đó, nhiều phương pháp ngoại khoa đã được đề cập và áp dụng từ thời kỳ đầu của thế kỷ 20 nhằm cứu chữa loại đau khó chịu nầy. Mãi cho tới hôm nay, vấn đề nầy vẫn còn nhiều bàn cãi cả về cơ chế lẫn phương pháp điều trị, nhưng hiện nay giải áp vi mạch được đánh giá như là một phương pháp có hiệu quả cao nhất và đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Ngoài ra, nhiệt đông dây V tại hạch Gasser qua da bằng sóng radio cũng là một phương pháp được áp dụng khá phổ biến hiện nay và kết quả rất đáng khích lệ.

Tài liệu tham khảo

1. Apfelbaum RI. Comperision of the long-term result of microvascular decompression and percutaneous trigeminal neurolysis for the treatment of trigeminal chúng tôi Watanabe K. Development in Neuroscience. Elsevier Science B.V, 2002, 629 – 643.

2. Ashkan K, Marsh H. Microvascular decompression for trigeminal neuralgia in the elderly: A review of the safety and efficacy. Neurosurg 55: 840 – 850, 2004.

3. Broggi G, Ferroli P, Franzini A. Operative findings and outcomes of microvascular decompression for trigeminal neuralgia in 35 patients affected by multiple sclerosis. Neurosurg 55: 830 – 839, 2004.

4. Hitotsumatsu T, Matsushima T, Inoue T. Microvascular decompression for treatment of trigeminal neuralgia, hemifacial spasmand glossopharyngeal neuralgia: Three surgical approach variations : Technical note. Neurosurg 53: 1436 – 1443, 2003.

5. Jawahar A, Kondziolka D, Kanal E. Imaging the trigeminal nerve and pons before and after surgical intervention for trigeminal neuralgia. Neurosurg 48: 101 – 107, 2001.

6. Fleetwood IG, Innes AM, Hansen SR, Steiberg GK. Family trigeminal neuralgia. J. Neurosurg 95: 513 – 517, 2001.

7. Kalkanis SN, Eskandar EN, Carter BS, Barker FG. Microvascular decompression surgery in the United State, 1996 – 2000: Mortality rates and the effects of hospital and surgeon volumes. J. neurosurg 52: 1251 – 1262, 2003.

8. Kobeta H, Kondo A, Iwasaki K. Cerebellopontine angle epidermoids presenting with cranial nerve hyperective dysfunction : Pathogenesis and long-term surgical results in 30 patients. Neurosurg 50: 276 – 286, 2002.

9. Linskey ME, Jho HD, Jannetta PJ. Microvascular decompression for trigeminal neuralgia caused by vertebral basilar compression. J. Neurosurg 81: 1 – 9, 1994.

10. Matsushima T, Phuong HL, Miyazono M. Trigeminal neuralgia caused by venous compression. Neurosurg 55: 334 – 339, 2004.

11. McNatt SA, Yu C, Gianaotta SL. Gamma knife radiosurgery for trigeminal neuralgia. Neurosurg 56: 1295 – 1303, 2005.

12. Rak R, Sekha LN, Stimac D, Hechl P. Endoscope assisted microsurgery of microvascular decompression syndromes. Neurosurg 54: 876 – 883, 2004.

13. Rhoton AL. The cerebellopontine angle and posterior fossa cranial nerves by the retrosigmoid approach. Neurosurg 47:

14. Ridder DD, Rya H, Moller AR. Functional anatomy of the human cochlear nerve and its role microvascular decompression for tinnitus. Neurosurg 54: 381 – 390, 2004.

15. Sampson JH, Grossi PM, Asaoka K. Microvascular decompression for glossopharyngeal neuralgia : Long term effectiveness and complication avoidance. Neurosurg 54: 884 – 890, 2004.

16. Tomasello F, Alafaci C, Salpietro FM, Longo M. Bulbar compression by an ectatic vertebral artery: A novel neurovascular construct relieved by microsurgical decompression. Neurosurg 56: 117 – 122, 2005.

17. Tronnier VM, Rashe D, Hamer J. Treatment of Idiopathic Trigeminal Neuralgia : Comparision of long-term outcome after radiofrequency rhizotomy and microvascular decompression. J. Neurosurg 48:, 2001.

18. Vo Van Nho. Microvascular decompression in the treatment of trigeminal neuralgia and hemifacial spasm. HCM J, Medicine 4: 62 – 66, 2000.

19. Zakrzewska JM, Lopez BC, Kim SE. Patient reports of microvascular decompression and partial sensory rhizotomy for trigeminal neuralgia. Neurosurg 56: 1304 – 1312, 2005.

Triệu Chứng Của Đau Dây Thần Kinh Chẩm, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Điều Trị Đau Dây Thần Kinh Chẩm

Đau thần kinh chẩm là tình trạng các dây thần kinh chẩm – là hai đôi dây thần kinh xuất phát từ đốt sống cổ thứ hai và thứ ba (C2,C3) bị viêm hoặc bị thương gây ra triệu chứng người bệnh cảm thấy đau ở phía sau đầu hoặc nền sọ.

Người dân có thể nhầm lẫn đau dây thần kinh chẩm với chứng đau nửa đầu hoặc các loại đau đầu khác, vì các triệu chứng có thể tương tự nhau. Nhưng phương pháp điều trị cho các bệnh này rất khác nhau, vì vậy điều quan trọng nhất là người bệnh phải được gặp bác sĩ chuyên khoan để được chẩn đoán chính xác bệnh.

Đau thần kinh chẩm xảy ra khi có áp lực hoặc kích thích dây thần kinh chẩm, có thể do chấn thương, khối u hoặc viêm. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, bác sĩ không tim ra nguyên nhân cụ thể dẫn đến tình trạng đau dây thần kinh chẩm.

Đau dây thần kinh chẩm có thể gây ra cơn đau dữ dội mà cảm giác như bị giật mạnh hay như điện giật ở phía sau đầu và cổ. Các triệu chứng khác bao gồm:

Đau nhức, đau rát và đau nhói thường bắt đầu từ nền hộp sọ và có thể đau lan sang phía sau hay dọc theo phần bên đầu

Đau ở một hoặc cả hai bên đầu

Nhạy cảm với ánh sáng

Da đầu có thể trở nên nhạy cảm đau và thậm chí chải tóc cũng có thể làm tăng cơn đau

Đau khi bạn cử động cổ

Trong nhiều trường hợp, không tìm thấy nguyên nhân gây đau dây thần kinh chẩm nên rất khó xác định cách phòng ngừa tình trạng này. Tuy nhiên, nhận ra các yếu tố gây ra hoặc góp phần gây căng cơ cổ và tránh các trường hợp có thể dẫn đến chấn thương cổ là những biện pháp tốt để ngăn ngừa đau dây thần kinh chẩm có thể xuất hiện trong tương lai.

Để chữa đau dây thần kinh chẩm, điều đầu tiên người bệnh nên thử một số biện pháp để giảm đau như:

Nếu những những biện pháp trên không đỡ, bác sĩ có thể kê đơn thuốc cho bạn, bao gồm:

Thuốc giãn cơ theo toa

Thuốc chống động kinh, như carbamazepine (Tegretol) và gabapentin

Thuốc chống trầm cảm

Phóng bế thần kinh và tiêm steroid. Có thể mất hai đến ba mũi trong vài tuần để kiểm soát cơn đau của người bệnh.

Phẫu thuật đối với người bệnh đau dây thần kinh chẩm hiếm khi được chỉ định, nhưng nó có thể là một lựa chọn nếu cơn đau không giảm với các phương pháp điều trị khác hoặc đau trở lại. Các phương pháp phẫu thuật có thể bao gồm:

Điều trị phẫu thuật giải đè ép vi mạch (Microvascular Decompression – MVD) Là kỹ thuật bộc lộ dây thần kinh bị ảnh hưởng, xác định các mạch máu có thể chèn ép các dây thần kinh và tách chúng ra khỏi điểm chèn ép. Kết quả là giúp cho dây thần kinh được phục hồi, không còn đau nữa.

Kích thích dây thần kinh chẩm. Sử dụng máy gây kích thích thần kinh đưa xung điện tới dây thần kinh chẩm. Trong trường hợp này, các xung điện có thể giúp chặn các tín hiệu đau đến não.

Đau thần kinh chẩm không phải là một tình trạng đe dọa tính mạng. Hầu hết mọi người đều giảm đau tốt bằng cách nghỉ ngơi và dùng thuốc. Trong một số trường hợp, đau tiếp diễn có thể chỉ ra rằng đó là kết quả của một bệnh lý khác, cần được chẩn đoán và điều trị khác. người bệnh cần đến ngay cơ sở Y tế, nếu thấy các triệu chứng sau: đau đầu đột ngột, dữ dội; hàm dưới không cử động; sốt cao, buồn nôn, nôn; lú lẫn; hôn mê; co giật. Đó là các triệu chứng của một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác.

Khó để phân biệt đau dây thần kinh chẩm với các loại đau đầu khác. Do đó, chẩn đoán có thể không dễ dàng. Để đánh giá kỹ bệnh, bác sĩ cần hỏi bệnh, khám và làm các xét nghiệm. Bác sĩ sẽ hỏi người bệnh những câu hỏi về tiền sử bệnh và về bất kỳ thương tích nào mà người bệnh đã bị. Bác sĩ sẽ ấn mạnh vào phía sau đầu của người bệnh để xem phản ứng của người bệnh nếu có đau dây thần kinh chẩm.

Người bệnh có thể được tiêm thuốc tê để làm tê liệt dây thần kinh, được gọi là phóng bế dây thần kinh, để xem nó có giúp người bệnh giảm đau không. Nếu có thì người bệnh được chẩn đoán bệnh đau thần kinh chẩm. NGoài ra, có thể bác sĩ sẽ chỉ định thêm một số xét nghiệm để tìm nguyên nhân:

Chụp cộng hưởng từ (MRI) : Có thể cho thấy bằng chứng chèn ép tủy sống từ xương, đĩa đệm hoặc máu tụ…

Chụp CT scan (CT hay CAT scan) : Có thể cho thấy hình dạng và kích thước của ống sống, thành phần và các cấu trúc xung quanh của ống sống.

Đường lây truyền bệnh Đau dây thần kinh chẩm

Bệnh đau dây thần kinh chẩm không phải là bệnh truyền nhiễm, do đó không có khả năng lây truyền từ người bệnh sang người khỏe mạnh.

Đối tượng nguy cơ bệnh Đau dây thần kinh chẩm

Đa số các trường hợp đau dây thần kinh chẩm đều không rõ nguyên nhân. Trong một số trường hợp, có thể do chấn thương, căng cơ cổ mãn tính, viêm đốt sống cổ.

Copyright © 2019 – Sitemap