Triệu Chứng Cơ Năng Của Xơ Gan / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Zqnx.edu.vn

Triệu Chứng Cơ Năng Hô Hấp / 2023

Các triệu chứng cơ năng là những triệu chứng do bệnh nhân tự cảm thấy khi mắc các bệnh hô hấp về bệnh của mình kể lại. Trong bệnh lý hô hấp, các triệu chứng chính là: Đau ngực, ho, khó thở, khạc đờm và ho máu. Đây là những triệu chứng có ý nghĩa quan trọng giúp cho chẩn đoán bệnh.

Phổi không có các nhánh thần kinh cảm giác đau. Đau ngực thường do tổn thương thành ngực (cơ, xương, khớp), màng phổi, màng tim, thực quản và cây khí phế quản. Khi có tổn thương nhu mô phổi mà xuất hiện đau ngực là do màng phổi phản ứng với các tổn thương này.

Những điểm quan trọng cần nắm khi hỏi bệnh nhân:

Cách khởi phát:

Đau đột ngột dữ dội: Đau dữ dội không có tính chất báo trước và mức độ đau ngay lập tức ở mức tối đa.

Đau tăng dần dai dẳng.

Vị trí đau:

Vị trí đau có thể gợi ý cơ quan bị tổn thương và bản chất của tổn thương.

Đau ở phía trước sau xương ức: Viêm khí phế quản hoặc hôi chứng trung thất.

Đau ở mặt trước bên: Viêm phổi hoặc màng phổi. Đau ở dưới vú thường gặp trong viêm phổi cấp.

Đau vùng hạ sườn hay gặp trong bệnh lý màng phổi.

Sự thay đổi của đau ngực với các cử động hô hấp: Mức độ đau thay đổi khi ho, khi thay đổi tư thế thường ít có giá trị chẩn đoán. Đau thường tăng lên khi ho hoặc hít vào sâu.

Đặc điểm của đau ngực theo các cơ quan bị tổn thương

Đau ngực do bệnh lý phổi – màng phổi:

Đau thường khởi phát đột ngột, kèm theo có các triệu chứng lâm sàng và x quang.

Đau do viêm phổi cấp: Đau dưới vú, đau tăng khi ho, thường có các triệu chứng khác kèm theo như: Rét run, sốt, khám phổi có hội chứng đông đặc. Loại đau ngực này cũng gặp trong nhồi máu phổi .

Đau do viêm khí phế quản: bệnh nhân có cảm giác đau nóng rát sau xương ức, đau tăng khi ho, có thể có hoặc không khạc đờm gặp trong viêm khí phế quản cấp do influenza, hoặc do hít phải khói kích thích.

Đau do bệnh lý màng phổi: đau ở mặt bên và đáy của lồng ngực, cường độ đau thay đổi, tăng lên khi ho và hít sâu. Đau lan lên bả vai và thường kết hợp với ho khan, thuốc giảm đau ít tác dụng và thường xuất hiện khi thay đổi tư thế. Trong tràn dịch màng phổi đau thường kết hợp với khó thở, lồng ngực bên bị bệnh giảm cử động và có hội chứng 3 giảm.

Đau ngực do tràn khí màng phổi: Đau đột ngột, dữ dội “đau như dao đâm” đau ở mặt bên, bả vai, ưới vú đôi khi giống như cơn đau thắt ngực. Đau thường kèm theo khó thở, ho khi thay đổi tư thế và có tam chứng Gaillard. Cảm giác đau như dao đâm còn gặp khi ổ áp xe phổi, áp xe dưới cơ hoành vỡ vào trong màng phổi.

Trong viêm màng phổi ở vùng thấp bao gồm cả phần ngoại vi của màng phổi hoành được chi phối bởi 6 dây thần kinh liên sườn dưới, đây là những dây thần kinh chi phôí cho cả thành bụng vì vậy khi viêm màng phổi ở phần này có thể kèm theo đau ở phần trên bụng. Phần trung tâm của cơ hoành được chi phối bởi dây thần kinh hoành (CIII và CIV) khi viêm ở phần này bệnh

nhân có thể có cảm giác đau ở vùng cổ hoặc mỏm vai.

Đau ngực do lao phổi thường là đau âm ỉ, dai dẳng.

Đau ngực trong ung thư phổi. Đau không rõ ràng, vị trí có thể thay đổi, song cố định theo thời gian trong ngày, thuốc giảm đau ít có tác dụng, thường kèm theo ho, có thể ho ra máu…Ở u đỉnh phổi đau lan từ ngực ra chi trên.

Đau trong bệnh lý trung thất do viêm hoặc không do viêm:

Đau sau xương ức có thể kèm theo sốt.

Đau mạn tính trong khối u trung thất:

Đau trong hội chứng chèn ép trung thất trước: Đau sau xương ức, đau giả cơn đau thắt ngực kèm theo phù áo khoác, tím và tuần hoàn bàng hệ, tăng áp lực tĩnh mạch chi trên khi ho và gắng sức.

Đau trong hội chứng chèn ép trung thất giữa: đau kiểu ” dây đeo quần” không thường xuyên và thường kèm theo khó thở rít, khò khè, ho khan, giọng đôi do liệt dây quặt ngược trái, nấc do chèn ép hoặc liệt thần kinh hoành.

Đau trong hội chứng chèn ép trung thất sau: Đau do chèn ép thần kinh liên sườn. Hoặc đau lan ra cánh tay do chèn ép vào các rễ thần kinh của đám rối cánh tay CVIII – DI.

Đau do bệnh lý thành ngực: Ngoài bệnh lý của màng phổi đau ở thành ngực có thể do:

Tổn thương xương: Đau do gẫy xương sườn thường dai dẳng, tăng khi cử động hô hấp, khi thay đổi vị trí và ho.

Tổn thương sụn sườn (hội chứng Tietze).

Tổn thương cơ, đau cơ, viêm cơ.

Tổn thương thần kinh liên sườn: Đau lan dọc theo xương sườn ở 1/2 lồng ngực.

Đau ngực ở những người chơi thể thao ( tennis ).

Đau do các nguyên nhân khác: Đau ngực do bệnh lý tim mạch:

Đau do bệnh mạch vành: Đau sau xương ức, lan lên cổ và chi trên.

Đau do tràn dịch màng ngoài tim: Đau vùng trước tim, tăng khi gắng sức, khi hít sâu.

Đau do bệnh lý thực quản: Đau sau xương ức, xuất hiện khi nuốt và nằm ngửa có thể kết hợp với khó nuốt.

Các đau ngực không do bệnh lý của thành ngực: Là đau từ nơi khác lan lên ngực.

Đau xuất phát từ bụng: Các bệnh lý gan, mật, dạ dầy, tuỵ.

Đau từ sau phúc mạc: Bệnh lý thận.

Ho là phản xạ của cơ quan hô hấp, các thụ cảm thể gây ho bị kích thích. Đây là phản xạ tích cực nhằm loại khỏi đường thở các chất tiết ra và vật lạ.

Cung phản xạ ho gồm: Các thụ cảm thể gây ho ở họng, thanh quản, phế quản lớn, màng phổi và trung thất, ngoài ra thụ cảm thể còn ở gan, tử cung, ống tai. Nhu mô phổi và các phế quản nhỏ ít thụ cảm thể gây ho. Trung tâm ho ở hành tuỷ, sàn não thất 4. Các dây thần kinh hướng tâm gồm dây thần kinh quặt ngược của dây X, dây thần kinh cơ hoành, dây thần kinh liên sườn, cơ bụng.

Phân tích đặc điểm của ho có thể giúp ích cho chẩn đoán.

Hoàn cảnh và thời gian xuất hiện ho:

Xuất hiện khi gắng sức,thay đổi tư thế, khi nuốt (ho khi nuốt là triệu chứng đặc trưng của dò thực quản – khí quản).

Ho buổi sáng ngủ dậy, ban ngày hay ho đêm.

Ho kịch phát hoặc dai dẳng,mạn tính:Ho mạn tính là ho kéo dài trên 3 tuần

Ho khàn hoặc ông ổng trong viêm thanh quản. giống như tiếng chó sủa.

Ho giọng đôi: tiếng ho lúc cao, lúc trầm. Gặp trong liệt dây thần kinh quặt ngược.

Giá trị của triệu chứng

Ho khan xuất hiện khi thay đổi tư thế gặp trong tràn dịch màng phổi.

Ho khạc đờm kèm theo sốt, đau ngực, khó thở, trong viêm phổi cấp

Ho khan kéo dài: bệnh thanh quản, bệnh phổi kẽ, viêm tai xương chũm mạn tính. viêm họng hạt, loạn cảm họng,viêm nũi xoang.

Ho dai dẳng có khạc đờm trong viêm phế quản mạn, giãn phế quản.

Ho gà: Ho thành cơn, ho thường về đêm rũ rượi, gây nôn mửa, ho khạc đờm chảy thành dây.

Nhiễm virút đường hô hấp.

Dị vật đường thở: Cơn ho đầu tiên khi dị vật rơi vào đường thở trước đó đã bị bỏ qua – thường gặp ở trẻ em.

Ung thư phổi ở người lớn: Ho thường kéo dài. ở những người hút thuốc lá triệu chứng này thường bị bỏ qua do nhầm tưởng là ho do hút thuốc.

Lao phổi: Theo chương trình chống lao quốc gia Việt Nam, khi ho trên 3 tuần cần đến y tế khám xem có bị mắc lao phổi hay không.

Co thắt khí phế quản: thường gặp trong hen phế quản, ho kèm theo cơn khó thở, song cũng có khi hen phế quản chỉ biểu hiện bằng cơn ho khan,về gần sáng,hay gặp ở trẻ em.

Ho trong bệnh tim: Ho về đêm kèm theo khó thở, trong hen tim do cao huyết áp có suy tim trái, hẹp van 2 lá.

Khạc đờm là sự ho và khạc ra ngoài các chất tiết, các sản phẩm bệnh lý nằm trong đường thở ưới nắp thanh môn.

Đặc điểm của đờm được khạc ra từ cây khí quản có ý nghĩa rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp. Song trước tiên phải xác định có phải bệnh nhân thực sự ho khạc đờm hay không. Cần lưu ý những trường hợp sau đây không phải là đờm:

Nhổ ra nước bọt: trắng trong và loãng.

Khạc ra các chất từ mũi họng, hoặc các chất trào ngược từ thực quản, dạ dầy.

Cần xác định: thời gian, số lượng, màu sắc, mùi vị có hối thối không và thành phần của đờm.

Đặc điểm của đờm theo bệnh lý phổi phế quản

Viêm phổi:

Viêm phổi thuỳ cấp ở người lớn do phế cầu: Ho khạc đờm thường ở ngày thứ 3 của bệnh,đờm dính khó khạc,có lẫn ít máu gọi là đờm “rỉ sắt”, kèm theo có hội chứng đông đặc điển hình. Sau cơn bệnh biến ở ngày thứ 9 của bệnh, đờm trở nên loãng, dễ khạc, trong dần và hết ở ngày thứ 15.

Viêm phổi do Klebsiella: Đờm thạch màu gạch.

Viêm phổi do trưc khuẩn mủ xanh: Đờm xanh lè.

Đờm trong phế quản phế viêm: Là đờm nhầy mủ xanh hoặc vàng.

Viêm phổi virut: Thường ho khan hoặc có khạc đờm nhầy trắng. Khi bội nhiễm có đờm nhầy mủ.

Giai đoạn đầu ho khan hoặc khạc ít đờm nhầy.

Giai đoạn ộc mủ: Thường xảy ra từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 10.

Tiền triệu: Hơi thở ra có mùi thối, đôi khi có khái huyết.

Ộc mủ số lượng lớn: Bệnh nhân có cơn đau ngực dữ dội có cảm giác như x trong lồng ngực, có thể bị ngất. Sau đó là ho ộc mủ hàng trăm ml trào ra qua miệng đôi khi ra cả mũi.

Ộc mủ từng phần: Bệnh nhân khạc ra lượng mủ khác nhau, nhiều lần trong ngày.

Đờm núm đồng tiền: Khi ngừng ho bệnh nhân khạc ra cục đờm dầy, hình đồng xu (Crachat nummulaire).

Đờm mùi thối gợi ý áp xe do vi khuẩn yếm khí.

Đờm màu Socola, hoặc màu cà phê sữa: Áp xe do amíp.

Giãn phế quản:

Ho khạc đờm nhiều vào buổi sáng, khi ngủ dậy. Tổng lượng đờm trong ngày từ vài chục đến hàng trăm ml (có thể trên 300 ml / 24 giờ ). Để trong cốc thuỷ tinh có 3 lớp:

Lớp trên là bọt nhầy.

Lớp giữa là dịch nhầy (do tăng tiết dịch phế quản )

Lớp dưới cùng là mủ .

Hen phế quản:

Khạc đờm ở cuối cơn khó thở, đờm dính trắng trong hoặc giống như bột sắn chín, có thể có đờm hạt trai (theo mô tả của Laennec).

Ho ra máu là hiện tượng máu từ đường hô hấp dưới được thoát ra ngoài qua miệng. Ho ra máu thường là một cấp cứu nội khoa.

Các cơ chế thường gặp là:

Do loét, vỡ mạch máu trong lao: Vỡ phình mạch Ramussen, giãn phế quản:vỡ mạch ở đoạn dừng lại Von-Hayek, ung thư phổi.

Do tăng áp lực mạch máu: Phù phổi huyết động, tăng tính thấm của mạch máu trong phù phổi tổn thương.

Tổn thương màng phế nang mao mạch: Hội chứng Good Pasture.

Rối loạn đông máu, chảy máu, nhất là khi có bệnh phổi kèm theo.

Hoàn cảnh xuất hiện: Sau gắng sức, xúc động, phụ nữ đang trong giai đoạn hành kinh hoặc không có hoàn cảnh gì đặc biệt.

Tiền triệu: Cảm giác nóng rát sau xương ức, ngứa họng, tanh mồm hoặc mệt xỉu đi.

Khạc ra máu đỏ tươi, có bọt, có thể chỉ có máu đơn thuần hoặc lẫn đờm.

Đuôi khái huyết: là dấu hiệu đã ngừng chẩy máu, thường gặp trong lao phổi, máu khạc ra ít dần, đỏ thẫm rồi đen lại.

Phân loại mức độ ho ra máu

Hiện nay, phân loại mức độ nặng nhẹ của ho ra máu chưa thống nhất. Trong thực tế, thường có 2 khả năng xảy ra đó là bệnh nhân đang ho, mới ho ra máu trong vài giờ hoặc đã ho ra máu trên 24 h.

Vì vậy để giúp cho xử trí và tiên lượng phân loại như sau:

Mức độ nhẹ: Ho từng bãi đờm nhỏ lẫn máu, tổng số máu đã ho ra < 50 ml. mạch và huyết áp bình thường.

Mức độ vừa: Tổng số lượng máu đã ho ra từ 50 đến 200 ml. mạch nhanh, huyết áp còn bình thường, không có suy hô hấp.

Ho máu sét đánh: Xuất hiện đột ngột, máu chảy khối lượng lớn, ồ ạt tràn ngập2 phổi gâyngạt thở và tử vong.

Chẩn đoán phân biệt giữa ho và nôn ra máu sẽ khó, khi bệnh nhân có ho ra máu kèm theo nôn ra chất nôn có lẫn máu, do nuốt đờm máu xuống dạ dầy. Khi đó cần khám kỹ phổi và chụp Xquang, khai thác kỹ bệnh sử về dạ dày; nếu cần thì soi phế quản hoặc soi dạ dầy để phát hiện tổn thương phổi.

Các nguyên nhân chính của ho ra máu

Viêm phổi thuỳ do phế cầu: đờm màu rỉ sắt.

Viêm phổi hoại tử do Klebsiella đờm lẫn máu keo gạch

Các nguyên nhân hiếm gặp:

Nấm Aspergillus phổi phế quản.

U mạch máu phổi.

Ngoài ra còn gặp ho ra máu do chấn thương, vết thương phổi và do can thiệp các thủ thuật như soi phế quản, sinh thiết phổi qua thành ngực…

Khó thở là cảm giác khó khăn, vướng mắc trong khi thở của bệnh nhân. Khó thở làm thay đổi các đặc điểm hoạt động thở bình thường của bệnh nhân như tần số thở, thời gian của thì hít vào và thở ra, sự phối hợp và tham gia của các cơ hô hấp. Vì vậy để mô tả khó thở một cách đầy đủ cần kết hợp với thăm khám bệnh.

Kiểu xuất hiện:

Khó thở kịch phát cấp tính.

Khó thở dai dẳng mạn tính.

Hoàn cảnh xuất hiện:

Khi nghỉ hoặc sau gắng sức, nhiễm khuẩn, chấn thương.

Xuất hiện đột ngột hay từ từ.

Khó thở chậm: < 12 lần / phút.

Khó thở thì hít vào.

Khó thở thì thở ra.

Khó thở khi nằm.

Khó thở khi di chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng.

Khó thở kèm theo các triệu chững cơ năng và thực thể khác:

Tím tái (là dấu hiệu của suy hô hấp cấp hoặc mạn), ho, đau ngực, khạc đờm, hoặc co k o các cơ hô hấp phụ.

Mức độ khó thở:

Phân loại của hội tim mạch Mỹ NYHA ( New york Heart. Associatide ).

Mức I: Không hạn chế hoạt động thể chất.

Mức II: Khó thở khi gắng sức nhiều.

Mức III: Khó thớ khi gắng sức nhẹ và hạn chế hoạt động thể chất.

Mức IV: Khó thở khi nghỉ.

Một số kiểu khó thở đặc biệt

Khó thở do rối loạn chuyển hóa:

Khó thở Kussmaul: Khó thở có chu kỳ 4 thì: Hít vào – ngừng – thở ra – ngừng do nhiễm toan chuyển hoá trong bệnh đái đường.

Khó thở kiểu Cheyne – Stockes: Có chu kỳ, biên độ tăng – giảm – ngừng gặp trong hội chứng phổi thận, béo phị, một số bệnh mạch máu não, suy tim nặng…

Nguyên nhân khó thở

Đường thở dưới:

Khí phế thũng trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, khó thở khi gắng sức, tăng ần, mạn tính.

Hen phế quản: Ở cơn hen điển hình, cơn khó thở kịch phát, khó thở ra, chậm, rít, tự hết hoặc sau dùng thuốc giãn phế quản,hay tái phát khi thay đổi thời tiết.

Nhu mô phổi:

Xơ phổi: Tiến triển từ từ âm ỉ, lúc đầu xuất hiện khi gắng sức về sau thành mạn tính xuất hiện cả khi nghỉ.

Viêm phổi: Khó thở nhanh nông.

Phế quản – Phế viêm: Khó thở nặng nhanh nông, thường kèm theo các biểu hiện của suy hô hấp,tím tái ,mạch nhanh đặc biệt ở trẻ em, người già.

Bệnh màng phổi:

Tràn dịch màng phổi: Khó thở nhanh nông, tăng khi vận động và khi ho.

Tràn khí màng phổi: Khó thở đột ngột, nhanh nông, có khi kèm theo tím tái.

U trung thất chèn ép khí quản: Khó thở khi nằm, khò khè.

Nguyên Nhân Và Triệu Chứng Của Xơ Gan / 2023

Xơ gan là một bệnh gan mạn tính được đặc trưng bởi sự thay thế mô gan bằng mô xơ, sẹo và sự thành lập các nốt tân sinh dẫn đến mất chức năng gan.

2. Nguyên nhân gây ra xơ gan?

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến xơ gan, trong đó gồm các nguyên nhân chính sau:

– Xơ gan do viêm gan virus: được xem là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh xơ gan, nhất là viêm gan virus B. Theo thống kê có khoảng 20% số người nhiễm viêm gan virus có khả năng biến chứng thành xơ gan.

– Xơ gan do rượu: Đây là nguyên nhân gây xơ gan nhiều thứ hai chỉ sau viêm gan virus.

– Xơ gan do nhiễm độc: hóa chất (DDT, urethane, phosphor, …) và thuốc ( isoniazid, rifamid, methotrexate, phenylbutazon…)

– Xơ gan do gan nhiễm mỡ: gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ nhiều trong gan gây nên viêm gan và tạo thành các mô sẹo khiến gan bị xơ hóa.

– Xơ gan do ứ mật: mật bị ứ đọng do viêm, tắc đường mật (cả đường mật trong gan và ngoài gan). Mật sẽ tác động làm ảnh hưởng, tổn thương tế bào gan dần dần dẫn đến xơ gan.

– Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác cũng gây nên bệnh xơ gan như: nhiễm ký sinh trùng sán máng, sán lá gan, xơ gan do mạch máu hoặc xơ gan do xung huyết, xơ gan do lách to (do sốt rét hoặc do lách to không rõ nguyên nhân)…

3. Triệu chứng của xơ gan

Giai đoạn đầu (xơ gan còn bù): Ở giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng lâm sàng thường không rõ hoặc rất nhẹ với các biểu hiện điển hình như:

Ăn không ngon miệng, chán ăn: tình trạng này kéo dài dẫn tới việc sút cân, cơ thể gầy đi nhanh chóng

Đau tức vùng bụng hoặc đầy bụng, buồn nôn

Ngứa là triệu chứng khá phổ biến, ngứa chủ yếu ở chân tay và lưng.

Cơ thể mệt mỏi

Giai đoạn nặng (xơ gan mất bù) ở giai đoạn này chức năng gan kém hẳn và suy yếu nhanh chóng, người bệnh bắt đầu cảm thấy các triệu chứng rõ ràng hơn như:

Đau hạ sườn phải: những cơ đau có thể xuất hiện thành nhiều lần trong ngày và thường không kéo dài.

Vàng da: Đây là triệu chứng phổ biến, vàng da có thể nhìn thấy trong mắt và da của bệnh nhân.

Sưng chân (phù) và bụng (cổ trướng): Lúc này gan bị tổn thương gan nặng nề, cơ thể người bệnh bắt đầu giữ muối và nước. Ban đầu, các muối và nước dư thừa tích tụ chủ yếu ở bàn chân và mắt cá chân (phù nề), lâu dần các chất lỏng cũng có thể thu thập ở bụng.

Xuất hiện tình trạng chảy máu: chảy máu chân răng, máu cam.

Nhật Minh (t/h)

Triệu Chứng Lâm Sàng Của Xơ Gan Cổ Trướng / 2023

Người bệnh khi bị viêm gan, gan nhiễm mỡ… lâu ngày mà không điều trị hoặc điều trị không hiệu quả, bệnh sẽ biến chứng sang xơ gan với tỉ lệ cao. Các tế bào gan không còn thực hiện việc trao đổi, chuyển hóa và tổng hợp chất, dần dần gan sẽ bị xơ hóa và mất hoàn toàn chức năng. Đó là giai đoạn cuối của xơ gan với biến chứng cổ trướng cùng những triệu chứng rõ rệt.

Tham khảo bài viết: Nguyên nhân gan cổ trướng.

Triệu chứng lâm sàng của xơ gan cổ trướng

Khi xơ gan đã biến chứng sang giai đoạn cổ trướng, ngoài những những triệu chứng từ bệnh xơ gan như: mệt mỏi, uể oải, chán ăn, buồn nôn, vàng da nặng hoặc tối sạm, vàng mắt…, người bệnh còn có những biểu hiện lâm sàng rõ rệt:

 Tiểu ít hoặc không thể đi tiểu

 2 chân bị phù nề

 Giãn mao mạch, bàn tay son

 Dấu sao hình nhện dưới da

 Đau vùng gan, phía trên bên phải bụng

Triệu chứng điển hình của xơ gan cổ trướng

Triệu chứng rõ rệt nhất của xơ gan cổ trướng thể hiện từ tên của biến chứng này, đó là cổ trướng:

  Bệnh nhân xơ gan cổ trướng nhìn từ bên ngoài, có biểu hiện bụng phình to, xệ xuống, da bụng căng bóng. Mức độ cổ trướng nặng có thể đẩy rốn lồi ra ngoài.

Lý giải cho hiện tượng này là do khi gan đã bị xơ đến giai đoạn mất bù (giai đoạn cuối), gan không còn thực hiện các chức năng của nó được nữa. Lúc này, nồng độ protein huyết tương giảm xuống và áp suất tĩnh mạch tăng lên khiến cho nước và các chất dịch khác thẩm thấu theo cơ chế cân bằng nội môi ra ngoài tĩnh mạch và tràn vào khoang bụng. Khoang bụng là khoảng trống nằm giữa thành bụng và thành lá tạng, khi lượng nước và dịch đổ vào đây tăng lên sẽ làm khoang này phình lên.

Bên cạnh là biến chứng lâu dài của xơ gan, cổ trướng còn có thể là biến chứng của các bệnh lý gan khác như: suy gan cấp tính, Hội chứng budd – Chiari do tắc nghẽn của tĩnh mạch gan, ung thư gan thứ phát và các bệnh lý ngoài gan như: suy tim, hư thận, rối loạn chức năng tụy, bệnh buồng trứng hoặc suy giáp.

50% người bệnh xơ gan biến chứng sang giai đoạn cổ trướng có thể tử vong trong vòng 1 năm, chứng tỏ sự nguy hại của bệnh và khả năng không thể hồi phục ở gan ở giai đoạn này. Biện pháp tốt nhất là thực hiện tốt việc điều trị ngay từ những giai đoạn đầu để ngăn những biến chứng muộn. Khi đã bước sang cổ trướng, bệnh nhân cần tích cực quyết liệt trong việc tuân thủ điều trị, luôn tiếp cận sự tư vấn từ phía bác sĩ chuyên môn và cập nhật những biện pháp điều trị mới nhất nếu có điều kiện.

Ngoài hotline bạn có thể để lại số điện thoại hoặc chat trực tiếp với các chuyên gia gan của phòng khám đa khoa Hồng Phong đang online 24/7

Triệu Chứng Của Xơ Gan Mất Bù, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Điều Trị Xơ Gan Mất Bù / 2023

Khi người bệnh mắc xơ gan do hậu quả của việc bị các tác nhân gây hại cho gan tấn công trong thời gian dài dẫn đến tế bào gan bị hư hại, chết dần và tạo ra các mô sẹo, không phục hồi được làm gan chai cứng dần dần và không thực hiện được những chức năng bình thường của gan. Xơ gan do nhiều nguyên nhân gây ra sẽ phát triển qua 2 giai đoạn gồm xơ gan còn bù và xơ gan mất bù. Người bệnh ở mỗi giai đoạn sẽ có triệu chứng khác nhau, trong đó xơ gan mất bù hay còn gọi là xơ gan cổ trướng là giai đoạn cuối của xơ gan. Khi này tình trạng người bệnh rất nghiêm trọng, diễn tiến theo chiều hướng xấu do gan không thực hiện được chức năng giải độc, khiến cơ thể bị nhiễm độc,

Cơ chế của xơ gan cổ trướng là do tăng áp tĩnh mạch cửa, ngoài ra còn do các yếu tố khác như giảm áp lực keo, giảm sức bền thành mạch, yếu tố giữ muối và nước.

Bác sĩ có thể kê toa thuốc là thuốc lợi tiểu, để giúp loại bỏ chất lỏng ra khỏi cơ thể của người bệnh.

Cắt giảm lượng muối. Tránh các chất thay thế muối có chứa kali. Điều này là do một số loại thuốc được sử dụng trong điều trị cổ trướng có thể khiến nồng độ kali tăng lên.

Giảm lượng nước uống.

Ngừng uống rượu.

Trong một số trường hợp nhất định, bác sĩ loại bỏ chất lỏng trong ổ bụng của người bệnh bằng kỹ thuật Chọc hút dịch cổ trướng giúp bệnh nhân tránh biến chứng suy gan. Điều này có thể được thực hiện nếu người bệnh khó thở hoặc thuốc lợi tiểu không hiệu quả.

Trong các trường hợp các cách điều trị trên không hiệu quả, người bệnh sẽ được chỉ định điều trị bằng TIPS là một phương pháp tạo shunt cửa – chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh trong phải, được chỉ định cho các trường hợp chảy máu do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản mà các biện pháp nội khoa và nội soi thất bại; dự phòng chảy máu tái phát ở bệnh nhân xơ gan tăng áp lực tĩnh mạch cửa đã điều trị bằng các biện pháp nội soi không đạt hiệu quả; cổ trướng dai dẳng và hội chứng Budd – Chiari.

Ở người bệnh xơ gan giai đoạn cuối, phù hai chân ngày càng nhiều do chức năng tổng hợp protein giảm dẫn đến lượng protein máu giảm làm cho nước thoát ra ngoài tế bào gây phù, đi lại nặng nề, ăn uống kém. Do đó, cần cho người bệnh nằm kê chân cao hơn so với tim vì ở tư thế này sẽ góp phần cải thiện tình trạng phù và hàng ngày cần vệ sinh mũi miệng sạch sẽ, đặc biệt là khi có chảy máu cam, chảy máu chân răng, để đề phòng nhiễm trùng răng, miệng và tạo cho người bệnh cảm giác ngon miệng. Ngoài ra, vì người bệnh rất mệt mỏi cho nên cần tạo không gian thoáng mát, yên tĩnh, hạn chế người ra vào thăm hỏi nhiều.

Đối tượng nguy cơ bệnh Xơ gan mất bù

Tổn thương gan là yếu tố rủi ro lớn nhất đối với người cổ trướng. Một số nguyên nhân gây tổn thương gan bao gồm:

Các bệnh khác có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh cổ trướng bao gồm:

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Xơ gan mất bù

Ngoài khám thể chất và hỏi về các triệu chứng, bệnh tật hiện tại, bác sĩ sẽ chỉ định thêm các xét nghiệm như sau:

Chọc dịch ổ bụng để lấy mẫu chất lỏng từ bụng của người bệnh bằng kim. Chất lỏng này sẽ được kiểm tra các dấu hiệu bệnh, chẳng hạn như ung thư hoặc nhiễm trùng. Xét nghiệm này có thể giúp chỉ ra nguyên nhân của cổ trướng.

Chẩn đoán hình ảnh để xem bên trong bụng của người bệnh bằng siêu âm, chụp MRI hoặc CT scan. MRI tạo ra hình ảnh bằng cách sử dụng từ trường và năng lượng tần số vô tuyến. Chụp CT tạo ra hình ảnh vi tính bằng tia X.

Triệu chứng bệnh Xơ gan mất bù

Cổ trướng thường đi kèm với cảm giác no, bụng phình to và tăng cân nhanh. Các triệu chứng khác thường bao gồm:

Nếu có sự kết hợp của các triệu chứng này, người dân hãy đi khám bác sĩ. Nếu bị cổ trướng thì đó thường là dấu hiệu của bệnh suy gan và thường xảy ra với bệnh nhân đã mắc xơ gan.

Biến chứng của xơ gan mất bù

Cổ trướng có thể làm cho người bệnh khó khăn trong ăn, uống, di chuyển xung quanh và khó thở. Cổ trướng kéo dài có thể dẫn đến nhiễm trùng bụng, gây suy thận, thoát vị rốn hoặc bẹn.

Xuất huyết tiêu hóa do giãn và vỡ tĩnh mạch thực quản, tĩnh mạch phình vị dạ dày.

Ung thư gan. Xơ gan do virus viêm gan B là nguyên nhân tử vong hàng đầu dẫn tới ung thư gan.

Bệnh não do suy gan còn gọi là hôn mê gan, vì khi gan bị suy không thải lọc được các độc chất trong cơ thể nên gây ra tình trạng ngủ gà ngủ gật, lơ mơ mất ý thức, tay chân run rẩy.

Biểu hiện xơ gan cổ trướng như thế nào?

Phòng ngừa bệnh Xơ gan mất bù

Giảm nguy cơ mắc bệnh xơ gan bằng cách thực hiện các bước sau để chăm sóc gan:

Không uống rượu nếu bị xơ gan. Nếu bị bệnh gan, nên tránh uống rượu bia.

Chế độ ăn uống lành mạnh. Chọn chế độ ăn uống dựa trên thực vật có đầy đủ các loại trái cây và rau quả. Chọn ngũ cốc nguyên hạt và thịt nạc. Giảm lượng chất béo và thực phẩm chiên rán.

Duy trì cân nặng khỏe mạnh. Khi có mỡ thừa trong cơ thể có thể làm hỏng gan. Nói chuyện với bác sĩ về kế hoạch giảm cân nếu người bệnh bị béo phì hoặc thừa cân.

Giảm nguy cơ viêm gan. Dùng chung kim tiêm và quan hệ tình dục không an toàn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm gan B và C. Hỏi bác sĩ về việc tiêm phòng viêm gan.

Tránh ăn thức ăn sống, nên ăn chín uống chín để không bị nhiễm ký sinh trùng.

Sử dụng thực phẩm sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm để phòng ngừa nhiễm hóa chất, phẩm màu độc hại gây tổn hại gan.

Không dùng thuốc làm ảnh hưởng gan.

Nếu lo lắng về nguy cơ mắc bệnh xơ gan, hãy nói chuyện với bác sĩ về những cách có thể giảm nguy cơ.

Nếu đã bị viêm gan hay xơ gan, thì một số cách sau đây có thể giúp người bệnh phòng tránh cổ trường, bao gồm:

Ngừng uống rượu bia.

Duy trì cân nặng.

Luyện tập thể dục đều đặn.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống.

Đối với những người đã bị viêm gan B hoặc C mạn tính cần theo dõi định kỳ 3 tháng hoặc 6 tháng một lần để phát hiện và điều trị sớm những trường hợp viêm gan tiến triển, nhằm hạn chế các biến chứng nặng như xơ gan và ung thư gan.

Khám sức khỏe định kỳ để phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý gây viêm gan do các nguyên nhân khác như suy tim, tắc mật

Không nên quá lo lắng và căng thẳng vì việc tuân thủ điều trị tốt sẽ giúp bệnh ngừng tiến triển và hạn chế biến chứng.

Không nên dùng các thuốc gây hại cho gan như thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau paracetamol. Nên xin ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng.

Tuyệt đối phải tránh xa các loại bia rượu.

Nên tuân thủ đúng thuốc điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc.

Nguyên nhân bệnh Xơ gan mất bù

Nguyên nhân xơ gan cổ trướng phổ biến nhất là do xơ gan. Uống quá nhiều rượu là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây xơ gan.

Các loại ung thư khác nhau cũng có thể gây ra tình trạng này. Cổ trướng do ung thư thường xảy ra với ung thư tiến triển hoặc tái phát, ngoài ra cổ trướng cũng có thể là triệu chứng của một số bệnh khác như bệnh tim, lọc máu, mức protein thấp và nhiễm trùng.

Đường lây truyền bệnh Xơ gan mất bù

Xơ gan do rất nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân do viêm gan B và C lây truyền qua đường máu như sử dụng chung bơm kim tiêm, từ mẹ sang con hay qua đường tình dục không an toàn.

Copyright © 2019 – Sitemap