Triệu Chứng Cơ Năng Của Gãy Xương / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Zqnx.edu.vn

Phục Hồi Chức Năng Gãy Xương Đòn

Gãy xương đòn là 1 gãy xương thường gặp trong chấn thương đặc biệt chấn thương thể thao, ngày nay nó thường được phẫu thuật hoặc điều trị bảo tồn cố định để chờ lành xương.

1. Lưu ý chung:

Không nâng tay: Không năng tay bị gãy xương đòn quá 70 độ theo mọi hướng trong vòng 4 tuần sau chấn thương.

Không nâng vật nặng: không nâng vật nặng quá 3 kg bên tay bị gãy trong vòng 6 tuần sau gãy xương.

Chườm đá: Trong tuần đầu chườm đá cho khớp vai 15 phút x 3 lần trong ngày giúp giảm đau, sưng nề và nhiễm trùng.

Sử dụng nẹp: Giữ nẹp xương đòn trong vòng 3-4 tuần sau chấn thương giúp lành xương.

Giữ vai đúng tư thế: trong khi mang đai cần chú ý giữ cho xương và cơ thẳng nhằm tạo sự cân bằng tránh di lệch thứ phát, chú ý tư thế vai, không nhún vai, không thả lỏng vai hay xoay tròn vai khi mang nẹp.

Tái khám: tái khám bác sĩ theo hẹn để kiểm tra theo dõi sự lành xương.

2. Chương trình phục hồi chức năng cơ bản.

2.1.Tuần đầu: bao gồm

Tập luyện hàng ngày

Lúc lắc cánh tay. Trong bài tập này người tập cong người về trước tay lành lựa trên ghế hay bàn, thả lỏng tự do tay bên đau, nhẹ nhàng xoay cánh tay theo 1 vòng tròn nhỏ, cố gắn xoay theo chiều và ngược chiều kim đồng hồ.

Tập sức mạnh cằm nắm: bóp 1 quả bóng nhỏ như banh tennis với lực nhẹ nhàng nhưng nhiều lần trong ngày.

Bài tập co cơ đẳng trường: trong bài tập này tập co cơ nhưng không chuyển động cánh tay. Có nhiều bài tập cơ khác nhau như:

Tập khớp vai đằng trường. tương tự như trên bạn cũng có thể tập dạng vai khép vai đưa trước đưa sau với cánh tay sát thân người.

Trong tuần này chuyên gia vật lý trị liệu cho bạn cũng có thể tập cho bạn các mô mềm bị tổn thương như rách kéo giãn..

Giai đoạn này tiếp tục điều trị mô mềm bị tổn thương,

Bắt đầu nhẹ nhàng tập các bài tập bò tường hay kéo ròng rọc để cải thiện biên độ vận động khớp vai, khi bò tường thực hiện bài tập đơn giản bằng các đầu ngón tay với biên độ không gây đau vai, tâp từ từ tăng dần từng chút một.

Bắt đầu các bài tập khớp khuỷu cổ tay gấp duỗi thẳng.

Nếu xương lành tiến triển tốt bạn có thể thực hiện gia tăng biên độ tập luyện, và tập tăng mạnh sưc cơ.

Bài tập biên độ vận động khớp vai tiếp tục nhưng giai đoạn này bạn có thể thêm lực đối kháng nhẹ với dây thun hay tạ với mức độ giới hạn đau, khớp vai cần nên tránh nâng vai, xoay hay bài tập vận động vai.

Trong giai đoạn này tập hết biên độ vận động khớp vai

Bài tập tăng sức mạnh cơ tiếp tục nhưng không mang vật nặng, tập tâng sức bền cơ với tạ nhẹ nhưng lập lại nhiều.

Bạn có thể thực hiện các bài tập tích cực sức mạnh cơ nhưng hãy ngưng tập khi thấy đau hay không vững khớp vai.

Bắt đầu các bài tập kỹ năng chuyên biệt.

Trở về tập luyên thể thao và thi đấu khi kiểm tra chức năng đủ khỏe và mềm dẻo như bên không đau.

Triệu Chứng Cơ Năng Hô Hấp

Các triệu chứng cơ năng là những triệu chứng do bệnh nhân tự cảm thấy khi mắc các bệnh hô hấp về bệnh của mình kể lại. Trong bệnh lý hô hấp, các triệu chứng chính là: Đau ngực, ho, khó thở, khạc đờm và ho máu. Đây là những triệu chứng có ý nghĩa quan trọng giúp cho chẩn đoán bệnh.

Phổi không có các nhánh thần kinh cảm giác đau. Đau ngực thường do tổn thương thành ngực (cơ, xương, khớp), màng phổi, màng tim, thực quản và cây khí phế quản. Khi có tổn thương nhu mô phổi mà xuất hiện đau ngực là do màng phổi phản ứng với các tổn thương này.

Những điểm quan trọng cần nắm khi hỏi bệnh nhân:

Cách khởi phát:

Đau đột ngột dữ dội: Đau dữ dội không có tính chất báo trước và mức độ đau ngay lập tức ở mức tối đa.

Đau tăng dần dai dẳng.

Vị trí đau:

Vị trí đau có thể gợi ý cơ quan bị tổn thương và bản chất của tổn thương.

Đau ở phía trước sau xương ức: Viêm khí phế quản hoặc hôi chứng trung thất.

Đau ở mặt trước bên: Viêm phổi hoặc màng phổi. Đau ở dưới vú thường gặp trong viêm phổi cấp.

Đau vùng hạ sườn hay gặp trong bệnh lý màng phổi.

Sự thay đổi của đau ngực với các cử động hô hấp: Mức độ đau thay đổi khi ho, khi thay đổi tư thế thường ít có giá trị chẩn đoán. Đau thường tăng lên khi ho hoặc hít vào sâu.

Đặc điểm của đau ngực theo các cơ quan bị tổn thương

Đau ngực do bệnh lý phổi – màng phổi:

Đau thường khởi phát đột ngột, kèm theo có các triệu chứng lâm sàng và x quang.

Đau do viêm phổi cấp: Đau dưới vú, đau tăng khi ho, thường có các triệu chứng khác kèm theo như: Rét run, sốt, khám phổi có hội chứng đông đặc. Loại đau ngực này cũng gặp trong nhồi máu phổi .

Đau do viêm khí phế quản: bệnh nhân có cảm giác đau nóng rát sau xương ức, đau tăng khi ho, có thể có hoặc không khạc đờm gặp trong viêm khí phế quản cấp do influenza, hoặc do hít phải khói kích thích.

Đau do bệnh lý màng phổi: đau ở mặt bên và đáy của lồng ngực, cường độ đau thay đổi, tăng lên khi ho và hít sâu. Đau lan lên bả vai và thường kết hợp với ho khan, thuốc giảm đau ít tác dụng và thường xuất hiện khi thay đổi tư thế. Trong tràn dịch màng phổi đau thường kết hợp với khó thở, lồng ngực bên bị bệnh giảm cử động và có hội chứng 3 giảm.

Đau ngực do tràn khí màng phổi: Đau đột ngột, dữ dội “đau như dao đâm” đau ở mặt bên, bả vai, ưới vú đôi khi giống như cơn đau thắt ngực. Đau thường kèm theo khó thở, ho khi thay đổi tư thế và có tam chứng Gaillard. Cảm giác đau như dao đâm còn gặp khi ổ áp xe phổi, áp xe dưới cơ hoành vỡ vào trong màng phổi.

Trong viêm màng phổi ở vùng thấp bao gồm cả phần ngoại vi của màng phổi hoành được chi phối bởi 6 dây thần kinh liên sườn dưới, đây là những dây thần kinh chi phôí cho cả thành bụng vì vậy khi viêm màng phổi ở phần này có thể kèm theo đau ở phần trên bụng. Phần trung tâm của cơ hoành được chi phối bởi dây thần kinh hoành (CIII và CIV) khi viêm ở phần này bệnh

nhân có thể có cảm giác đau ở vùng cổ hoặc mỏm vai.

Đau ngực do lao phổi thường là đau âm ỉ, dai dẳng.

Đau ngực trong ung thư phổi. Đau không rõ ràng, vị trí có thể thay đổi, song cố định theo thời gian trong ngày, thuốc giảm đau ít có tác dụng, thường kèm theo ho, có thể ho ra máu…Ở u đỉnh phổi đau lan từ ngực ra chi trên.

Đau trong bệnh lý trung thất do viêm hoặc không do viêm:

Đau sau xương ức có thể kèm theo sốt.

Đau mạn tính trong khối u trung thất:

Đau trong hội chứng chèn ép trung thất trước: Đau sau xương ức, đau giả cơn đau thắt ngực kèm theo phù áo khoác, tím và tuần hoàn bàng hệ, tăng áp lực tĩnh mạch chi trên khi ho và gắng sức.

Đau trong hội chứng chèn ép trung thất giữa: đau kiểu ” dây đeo quần” không thường xuyên và thường kèm theo khó thở rít, khò khè, ho khan, giọng đôi do liệt dây quặt ngược trái, nấc do chèn ép hoặc liệt thần kinh hoành.

Đau trong hội chứng chèn ép trung thất sau: Đau do chèn ép thần kinh liên sườn. Hoặc đau lan ra cánh tay do chèn ép vào các rễ thần kinh của đám rối cánh tay CVIII – DI.

Đau do bệnh lý thành ngực: Ngoài bệnh lý của màng phổi đau ở thành ngực có thể do:

Tổn thương xương: Đau do gẫy xương sườn thường dai dẳng, tăng khi cử động hô hấp, khi thay đổi vị trí và ho.

Tổn thương sụn sườn (hội chứng Tietze).

Tổn thương cơ, đau cơ, viêm cơ.

Tổn thương thần kinh liên sườn: Đau lan dọc theo xương sườn ở 1/2 lồng ngực.

Đau ngực ở những người chơi thể thao ( tennis ).

Đau do các nguyên nhân khác: Đau ngực do bệnh lý tim mạch:

Đau do bệnh mạch vành: Đau sau xương ức, lan lên cổ và chi trên.

Đau do tràn dịch màng ngoài tim: Đau vùng trước tim, tăng khi gắng sức, khi hít sâu.

Đau do bệnh lý thực quản: Đau sau xương ức, xuất hiện khi nuốt và nằm ngửa có thể kết hợp với khó nuốt.

Các đau ngực không do bệnh lý của thành ngực: Là đau từ nơi khác lan lên ngực.

Đau xuất phát từ bụng: Các bệnh lý gan, mật, dạ dầy, tuỵ.

Đau từ sau phúc mạc: Bệnh lý thận.

Ho là phản xạ của cơ quan hô hấp, các thụ cảm thể gây ho bị kích thích. Đây là phản xạ tích cực nhằm loại khỏi đường thở các chất tiết ra và vật lạ.

Cung phản xạ ho gồm: Các thụ cảm thể gây ho ở họng, thanh quản, phế quản lớn, màng phổi và trung thất, ngoài ra thụ cảm thể còn ở gan, tử cung, ống tai. Nhu mô phổi và các phế quản nhỏ ít thụ cảm thể gây ho. Trung tâm ho ở hành tuỷ, sàn não thất 4. Các dây thần kinh hướng tâm gồm dây thần kinh quặt ngược của dây X, dây thần kinh cơ hoành, dây thần kinh liên sườn, cơ bụng.

Phân tích đặc điểm của ho có thể giúp ích cho chẩn đoán.

Hoàn cảnh và thời gian xuất hiện ho:

Xuất hiện khi gắng sức,thay đổi tư thế, khi nuốt (ho khi nuốt là triệu chứng đặc trưng của dò thực quản – khí quản).

Ho buổi sáng ngủ dậy, ban ngày hay ho đêm.

Ho kịch phát hoặc dai dẳng,mạn tính:Ho mạn tính là ho kéo dài trên 3 tuần

Ho khàn hoặc ông ổng trong viêm thanh quản. giống như tiếng chó sủa.

Ho giọng đôi: tiếng ho lúc cao, lúc trầm. Gặp trong liệt dây thần kinh quặt ngược.

Giá trị của triệu chứng

Ho khan xuất hiện khi thay đổi tư thế gặp trong tràn dịch màng phổi.

Ho khạc đờm kèm theo sốt, đau ngực, khó thở, trong viêm phổi cấp

Ho khan kéo dài: bệnh thanh quản, bệnh phổi kẽ, viêm tai xương chũm mạn tính. viêm họng hạt, loạn cảm họng,viêm nũi xoang.

Ho dai dẳng có khạc đờm trong viêm phế quản mạn, giãn phế quản.

Ho gà: Ho thành cơn, ho thường về đêm rũ rượi, gây nôn mửa, ho khạc đờm chảy thành dây.

Nhiễm virút đường hô hấp.

Dị vật đường thở: Cơn ho đầu tiên khi dị vật rơi vào đường thở trước đó đã bị bỏ qua – thường gặp ở trẻ em.

Ung thư phổi ở người lớn: Ho thường kéo dài. ở những người hút thuốc lá triệu chứng này thường bị bỏ qua do nhầm tưởng là ho do hút thuốc.

Lao phổi: Theo chương trình chống lao quốc gia Việt Nam, khi ho trên 3 tuần cần đến y tế khám xem có bị mắc lao phổi hay không.

Co thắt khí phế quản: thường gặp trong hen phế quản, ho kèm theo cơn khó thở, song cũng có khi hen phế quản chỉ biểu hiện bằng cơn ho khan,về gần sáng,hay gặp ở trẻ em.

Ho trong bệnh tim: Ho về đêm kèm theo khó thở, trong hen tim do cao huyết áp có suy tim trái, hẹp van 2 lá.

Khạc đờm là sự ho và khạc ra ngoài các chất tiết, các sản phẩm bệnh lý nằm trong đường thở ưới nắp thanh môn.

Đặc điểm của đờm được khạc ra từ cây khí quản có ý nghĩa rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp. Song trước tiên phải xác định có phải bệnh nhân thực sự ho khạc đờm hay không. Cần lưu ý những trường hợp sau đây không phải là đờm:

Nhổ ra nước bọt: trắng trong và loãng.

Khạc ra các chất từ mũi họng, hoặc các chất trào ngược từ thực quản, dạ dầy.

Cần xác định: thời gian, số lượng, màu sắc, mùi vị có hối thối không và thành phần của đờm.

Đặc điểm của đờm theo bệnh lý phổi phế quản

Viêm phổi:

Viêm phổi thuỳ cấp ở người lớn do phế cầu: Ho khạc đờm thường ở ngày thứ 3 của bệnh,đờm dính khó khạc,có lẫn ít máu gọi là đờm “rỉ sắt”, kèm theo có hội chứng đông đặc điển hình. Sau cơn bệnh biến ở ngày thứ 9 của bệnh, đờm trở nên loãng, dễ khạc, trong dần và hết ở ngày thứ 15.

Viêm phổi do Klebsiella: Đờm thạch màu gạch.

Viêm phổi do trưc khuẩn mủ xanh: Đờm xanh lè.

Đờm trong phế quản phế viêm: Là đờm nhầy mủ xanh hoặc vàng.

Viêm phổi virut: Thường ho khan hoặc có khạc đờm nhầy trắng. Khi bội nhiễm có đờm nhầy mủ.

Giai đoạn đầu ho khan hoặc khạc ít đờm nhầy.

Giai đoạn ộc mủ: Thường xảy ra từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 10.

Tiền triệu: Hơi thở ra có mùi thối, đôi khi có khái huyết.

Ộc mủ số lượng lớn: Bệnh nhân có cơn đau ngực dữ dội có cảm giác như x trong lồng ngực, có thể bị ngất. Sau đó là ho ộc mủ hàng trăm ml trào ra qua miệng đôi khi ra cả mũi.

Ộc mủ từng phần: Bệnh nhân khạc ra lượng mủ khác nhau, nhiều lần trong ngày.

Đờm núm đồng tiền: Khi ngừng ho bệnh nhân khạc ra cục đờm dầy, hình đồng xu (Crachat nummulaire).

Đờm mùi thối gợi ý áp xe do vi khuẩn yếm khí.

Đờm màu Socola, hoặc màu cà phê sữa: Áp xe do amíp.

Giãn phế quản:

Ho khạc đờm nhiều vào buổi sáng, khi ngủ dậy. Tổng lượng đờm trong ngày từ vài chục đến hàng trăm ml (có thể trên 300 ml / 24 giờ ). Để trong cốc thuỷ tinh có 3 lớp:

Lớp trên là bọt nhầy.

Lớp giữa là dịch nhầy (do tăng tiết dịch phế quản )

Lớp dưới cùng là mủ .

Hen phế quản:

Khạc đờm ở cuối cơn khó thở, đờm dính trắng trong hoặc giống như bột sắn chín, có thể có đờm hạt trai (theo mô tả của Laennec).

Ho ra máu là hiện tượng máu từ đường hô hấp dưới được thoát ra ngoài qua miệng. Ho ra máu thường là một cấp cứu nội khoa.

Các cơ chế thường gặp là:

Do loét, vỡ mạch máu trong lao: Vỡ phình mạch Ramussen, giãn phế quản:vỡ mạch ở đoạn dừng lại Von-Hayek, ung thư phổi.

Do tăng áp lực mạch máu: Phù phổi huyết động, tăng tính thấm của mạch máu trong phù phổi tổn thương.

Tổn thương màng phế nang mao mạch: Hội chứng Good Pasture.

Rối loạn đông máu, chảy máu, nhất là khi có bệnh phổi kèm theo.

Hoàn cảnh xuất hiện: Sau gắng sức, xúc động, phụ nữ đang trong giai đoạn hành kinh hoặc không có hoàn cảnh gì đặc biệt.

Tiền triệu: Cảm giác nóng rát sau xương ức, ngứa họng, tanh mồm hoặc mệt xỉu đi.

Khạc ra máu đỏ tươi, có bọt, có thể chỉ có máu đơn thuần hoặc lẫn đờm.

Đuôi khái huyết: là dấu hiệu đã ngừng chẩy máu, thường gặp trong lao phổi, máu khạc ra ít dần, đỏ thẫm rồi đen lại.

Phân loại mức độ ho ra máu

Hiện nay, phân loại mức độ nặng nhẹ của ho ra máu chưa thống nhất. Trong thực tế, thường có 2 khả năng xảy ra đó là bệnh nhân đang ho, mới ho ra máu trong vài giờ hoặc đã ho ra máu trên 24 h.

Vì vậy để giúp cho xử trí và tiên lượng phân loại như sau:

Mức độ nhẹ: Ho từng bãi đờm nhỏ lẫn máu, tổng số máu đã ho ra < 50 ml. mạch và huyết áp bình thường.

Mức độ vừa: Tổng số lượng máu đã ho ra từ 50 đến 200 ml. mạch nhanh, huyết áp còn bình thường, không có suy hô hấp.

Ho máu sét đánh: Xuất hiện đột ngột, máu chảy khối lượng lớn, ồ ạt tràn ngập2 phổi gâyngạt thở và tử vong.

Chẩn đoán phân biệt giữa ho và nôn ra máu sẽ khó, khi bệnh nhân có ho ra máu kèm theo nôn ra chất nôn có lẫn máu, do nuốt đờm máu xuống dạ dầy. Khi đó cần khám kỹ phổi và chụp Xquang, khai thác kỹ bệnh sử về dạ dày; nếu cần thì soi phế quản hoặc soi dạ dầy để phát hiện tổn thương phổi.

Các nguyên nhân chính của ho ra máu

Viêm phổi thuỳ do phế cầu: đờm màu rỉ sắt.

Viêm phổi hoại tử do Klebsiella đờm lẫn máu keo gạch

Các nguyên nhân hiếm gặp:

Nấm Aspergillus phổi phế quản.

U mạch máu phổi.

Ngoài ra còn gặp ho ra máu do chấn thương, vết thương phổi và do can thiệp các thủ thuật như soi phế quản, sinh thiết phổi qua thành ngực…

Khó thở là cảm giác khó khăn, vướng mắc trong khi thở của bệnh nhân. Khó thở làm thay đổi các đặc điểm hoạt động thở bình thường của bệnh nhân như tần số thở, thời gian của thì hít vào và thở ra, sự phối hợp và tham gia của các cơ hô hấp. Vì vậy để mô tả khó thở một cách đầy đủ cần kết hợp với thăm khám bệnh.

Kiểu xuất hiện:

Khó thở kịch phát cấp tính.

Khó thở dai dẳng mạn tính.

Hoàn cảnh xuất hiện:

Khi nghỉ hoặc sau gắng sức, nhiễm khuẩn, chấn thương.

Xuất hiện đột ngột hay từ từ.

Khó thở chậm: < 12 lần / phút.

Khó thở thì hít vào.

Khó thở thì thở ra.

Khó thở khi nằm.

Khó thở khi di chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng.

Khó thở kèm theo các triệu chững cơ năng và thực thể khác:

Tím tái (là dấu hiệu của suy hô hấp cấp hoặc mạn), ho, đau ngực, khạc đờm, hoặc co k o các cơ hô hấp phụ.

Mức độ khó thở:

Phân loại của hội tim mạch Mỹ NYHA ( New york Heart. Associatide ).

Mức I: Không hạn chế hoạt động thể chất.

Mức II: Khó thở khi gắng sức nhiều.

Mức III: Khó thớ khi gắng sức nhẹ và hạn chế hoạt động thể chất.

Mức IV: Khó thở khi nghỉ.

Một số kiểu khó thở đặc biệt

Khó thở do rối loạn chuyển hóa:

Khó thở Kussmaul: Khó thở có chu kỳ 4 thì: Hít vào – ngừng – thở ra – ngừng do nhiễm toan chuyển hoá trong bệnh đái đường.

Khó thở kiểu Cheyne – Stockes: Có chu kỳ, biên độ tăng – giảm – ngừng gặp trong hội chứng phổi thận, béo phị, một số bệnh mạch máu não, suy tim nặng…

Nguyên nhân khó thở

Đường thở dưới:

Khí phế thũng trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, khó thở khi gắng sức, tăng ần, mạn tính.

Hen phế quản: Ở cơn hen điển hình, cơn khó thở kịch phát, khó thở ra, chậm, rít, tự hết hoặc sau dùng thuốc giãn phế quản,hay tái phát khi thay đổi thời tiết.

Nhu mô phổi:

Xơ phổi: Tiến triển từ từ âm ỉ, lúc đầu xuất hiện khi gắng sức về sau thành mạn tính xuất hiện cả khi nghỉ.

Viêm phổi: Khó thở nhanh nông.

Phế quản – Phế viêm: Khó thở nặng nhanh nông, thường kèm theo các biểu hiện của suy hô hấp,tím tái ,mạch nhanh đặc biệt ở trẻ em, người già.

Bệnh màng phổi:

Tràn dịch màng phổi: Khó thở nhanh nông, tăng khi vận động và khi ho.

Tràn khí màng phổi: Khó thở đột ngột, nhanh nông, có khi kèm theo tím tái.

U trung thất chèn ép khí quản: Khó thở khi nằm, khò khè.

Triệu Chứng Lâm Sàng Gãy Xương Chính Mũi

Khi bị chấn thương vùng mũi, chúng ta nghĩ ngay đến gãy XCM và đánh giá ngay tình trạng của XCM. Khi có chảy máu mũi, gãy hở XCM chiếm tỉ lệ khá cao. Khi bệnh nhân cho biết dạng sống mũi có thay đổi và có nghẹt mũi, tì lệ gãy XCM kèm theo khá cao. Trong bệnh sử, chúng ta phải để ý đến lực, hướng và bản chất của va chạm.

Khám lâm sàng giúp chúng ta xác định đúng tổn thương. Nhiều nạn nhân không nói đúng sự thật của lực để chỉ được điều trị nội khoa. Một số nghiên cứu cho thấy hầu hết phân nửa nạn nhân được khám ở các bệnh viện đa khoa hay ở phòng cấp cứu và được đánh giá tại phòng cấp cứu. Phù nề có thể che lấp triệu chứng gãy xương. Mui phải được khám từ ngoài vào và từ trong ra để tìm các biến dạng, các nơi bị vẹo, bị hẹp hay các cấu trúc lân cận bị ảnh hưởng. Với vết thương xây xát nặng, nạn nhân dễ bị chảy máu mũi, bầm hoặc tụ máu. Đây là các triệu chứng gợi ý có gãy XCM kèm theo. Ngoài ra còn một sô” triệu chứng khác như phù nề, bầm da, thâm tím vùng quanh hô” mắt, hoặc đọng máu giấc mạc. Bầm tím quanh mắt (dâu đeo mắt kính) là có gãy xương vùng sàn sọ trước. Khám bên trong mũi có thể thây niêm mạc bị phù nề và có đọng máu trong hốc mũi. Phải cẩn thận khi lây vảy máu khô trong mũi, nếu không bệnh nhân sẽ bị chảy máu mũi tái phát, có khi máu chảy nhiều và khó cầm.

Nắn XCM để tìm dâu lạo xạo, nơi xương bị gãy. Biết được nơi vùng xương bị lõm vào, bị đổi vị trí, chúng ta có thể xử trí đúng mức. Nếu ta khám mũi bằng cách cho một dụng cụ vào hốc mũi phối hợp với ngón tay nắn bên ngoài, ta có thể biết được nơi xương bị gãy. Phải cẩn thận tô”i đa, nhất là khi hô”c mũi bị phù nề. Kiểm tra cẩn thận vùng XCM, nhiều khi có thể phát hiện được trật khớp XCM, sụn cánh mũi, sụn tứ giác của vách ngăn mũi bị lệch. Để ý đến sụn bên, van mũi và sụn tứ giấc, các phần này dễ bị tổn thương. Chóp mũi phải được nắn tìm xem có còn di động hay không và để ý chân thương gãy các phần ở dưới mà không hay biết. Nắn với hai ngón tay, ép gai mũi trước để biết tình trạng của xương cày. Mọi di lệch khác hoặc xương bị gập góc là dâu hiệu của gãy xương. Kiểm tra hô”c mũi với ống nội soi mềm, nếu có.

Chụp ảnh để làm tài liệu và để so sánh hình dạng thấp mũi trước và sau phẫu thuật. Nên tìm hình ảnh mũi trước chân thương của nạn nhân để so sánh với tình trạng mũi hiện nay. Khoảng 30% mũi bị dị dạng bẩm sinh chấp nhận được trước khi bị chân thương. Phải để ý đến chân thương nơi khác như gãy răng, vỡ nhãn cầu, chân thương hệ thống lệ và chảy dịch não tủy. Chảy dịch não tủy có thể xuất hiện trong vài ngày sau chân thương, nhưng chúng ta vẫn nghi ngờ khi bệnh nhân bị mâ”t mùi, và đặc biệt là nạn nhân bị vỡ mảnh sàng kèm theo. Nói tóm lại, tìm dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng và dâu hiệu X quang là những điểm chủ yếu để định tổn thương chính xác để điều trị sớm và tránh được di chứng sau này.

viêm mũi dị ứng thời tiết

triệu chứng viêm mũi dị ứng

thông xoang tán có tốt không

Gãy Xương Bả Vai: Triệu Chứng, Điều Trị, Hậu Quả

Xương cánh tay được kết nối với xương đòn bằng lưỡi. Hình dạng của xương giống như một cái xẻng. Nó đã cho tên của một phần của bộ xương. Xẻng – xương phẳng. Nó bao gồm một số bộ phận. Tùy thuộc vào yếu tố nào đã gãy ra trên lưỡi bị hư hỏng, và điều trị được chọn.

Nguyên nhân gãy xương

Đây là một phần của bộ xương bị phá vỡ rất thường xuyên. Trong năm đã đăng ký không quá 1,5% của gãy xương xương bả vai so với xương khác. Nhưng điều này không có nghĩa là một thành phần của bộ xương cần được điều trị nhẹ nhàng.

gãy xương bả vai đòi hỏi phải điều trị dài ngày và phục hồi chức năng khó khăn. Nguyên nhân phổ biến nhất của chấn thương như đang giảm trở lại. Nó cũng dễ dàng để có được loại gãy xương trong đánh trực tiếp vào xương bả vai.

dịp khi điều này đã phá vỡ một xương trong sự căng thẳng của cơ bắp của khớp vai đôi khi gặp nhau. Điện áp được truyền đi trong trường hợp này, cổ xương bả vai, và nó phá vỡ xuống dưới sức nặng của xương cánh tay. Thông thường, một vấn đề như vậy phải đối mặt với các vận động viên những người đang tham gia vào ném bóng. Khi trượt tay chấn thương như vậy có thể xảy ra lại sâu.

triệu chứng của bệnh

Gãy xương bả vai – nó luôn luôn là một nỗi đau, và sưng. Sờ nắn phần cơ thể khó chịu khuếch đại ở vị trí trang web của xương. Khi gãy xương cổ đôi khi bác sĩ thăm dò các cạnh sắc nét của xương. Khi trật khớp của khớp vai cạnh ở lưỡi là nửa vòng tròn và trơn tru.

Sự chuyển động của tay bị ảnh hưởng là khó khăn, và trong khi cố gắng để nhặt nó lên có một đau nhói. Trong một số trường hợp, có những vết thâm tím ở vị trí chấn thương. Họ thường xuất hiện trong 2-3 ngày.

Triệu chứng dễ nhận biết là một sưng trong hình dạng của một hình tam giác. Trên cơ sở này, các bác sĩ nhanh chóng xác định với việc chẩn đoán. Tùy thuộc vào loại các triệu chứng gãy xương có thể thay đổi hoặc xuất hiện trong một biểu hiện tối thiểu.

Gãy xương bả vai của quá trình

Với hình thức này của chấn thương là quan sát tráng biến dạng. Sau đó, có xuất huyết. quá trình nadplechevogo gãy xương có thể xác định các bác sĩ thông qua sờ nắn. Ông dễ dàng qua da xác định các mảnh vỡ. chấn thương này xảy ra thường xuyên nhất từ một cú đánh mạnh từ trên xuống dưới trực tiếp trên vai. Gãy xương có thể mang theo với họ và các biến chứng khác.

Cũng không phải là rất thường là mỏ gãy xương. Trong trường hợp này, có một sự bất đối xứng rõ ràng về vai tráng. Trên sờ nắn đau tăng lên. nơi nở đặc trưng. Khi một điện áp của một bàn tay hoặc một nỗ lực để làm cho nó một nỗi đau trong hành động nhiều lần tăng lên.

Beak ruột thừa có thể được di dời gãy xương. Điều này xảy ra khi vỡ dây chằng vai và xương đòn. Cùng với một gãy xương của quá trình này thường được quan sát thấy một bờ vai bị trật khớp. Điều này kết hợp chấn thương, và điều trị diễn ra trong 7-14 ngày đầu tiên trong bệnh viện.

Gãy cổ xương bả vai

Đây loại mang lại biến chứng và phục hồi chức năng lâu dài. gãy xương như vậy có thể được bù đắp mà không có nó. Bệnh nhân thường nắm tay của nạn nhân khỏe mạnh và ép nó vào ngực của mình. Trong khu vực của lưỡi đóng vai trò như một hình bầu dục sưng. Tại thời điểm chuyển giao cổ mà không cần di chuyển bệnh nhân không cảm thấy đau ở vùng cẳng tay. Nó phản ứng với sờ nách.

Trong trường hợp khi có một gãy xương bả vai với dịch chuyển, có một số triệu chứng khác:

tay đưa về phía trước và không rút lại;

các khớp vai trở thành một hình dạng hình cầu;

sờ nắn người bệnh than phiền đau đớn là ở nơi tác động;

động tác tay thụ động không bị cản trở.

Tại thời điểm chuyển giao loại biến chứng này có thể cần phải phẫu thuật. Nó hiếm khi được sử dụng, nhưng nó có 100% nhu cầu cần thiết.

Bất kỳ loại chấn thương đòi hỏi nghiên cứu trong bệnh viện và điều trị ngay lập tức. Bệnh nhân cảm thấy đau nhói khi có sự đứt gãy của xương bả vai. Các triệu chứng sau đó dần dần stuhayut, và một người đi với một chấn thương cho đến khi bạn đối mặt với những biến chứng của bệnh. Do đó, nếu bạn nghi ngờ một gãy xương, ngay lập tức đi khám bác sĩ.

cấp cứu

Nếu có một người có triệu chứng gợi ý của một gãy của lưỡi, sau đó anh ta cần sự giúp đỡ trước khi xe cứu thương hoặc để vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện một mình:

đưa ra bất cứ viên thuốc giảm đau ( “Analgin”, “Spazmalgon” “Ibuprofen” dưới những cảm xúc không thể chịu đựng được phép sử dụng “Ketanovom”);

trong nách đặt một pad nhỏ len bông hoặc con lăn của nhiều băng xoắn;

đến các trang web thương tích cho thực hiện bất kỳ lạnh (thực phẩm từ tủ đông được thông qua gây tã hoặc tờ, chưa đến tê buốt da);

với một mảnh vải để đưa tay sửa chữa băng ép vào ngực anh, như vậy sẽ có thể để tránh chấn thương hơn nữa để các mạch máu và dây thần kinh đống đổ nát xương;

đến bệnh viện để thực hiện bệnh nhân chỉ cần ở một vị trí ngồi.

Những quy định này sẽ giúp tránh những biến chứng bổ sung và đau dữ dội cho người bị ảnh hưởng.

chẩn đoán bệnh

Gãy xương bả vai là rất hiếm, nhưng nó có thể xác định bất kỳ chấn thương hoặc phẫu thuật. Bệnh nhân trải qua sờ nắn của điểm tác động, và bằng phản ứng và các mô tả về cảm giác nạn nhân đã hình thành một bức tranh về chẩn đoán của bác sĩ.

Để xác nhận các giả định các bác sĩ thực hiện kiểm tra X-ray trong hai dự. Kết quả tìm kiếm có thể 100% xác nhận hoặc từ chối một chẩn đoán sơ bộ.

phương pháp điều trị

Trong bất kỳ loại gãy xương là bước đầu cần thiết để gây tê tại chỗ tổn thương. Ở nhà, bạn cần phải thực hiện gây tê thuốc. Các bệnh viện có thể làm cho một tiêm “Novocain” trong các trang web gãy xương.

Sau đó băng áp lực áp dụng với một con lăn dưới cánh tay. Bằng cách này, bệnh nhân đi 3-4 tuần. Sửa chữa không xảy ra trong vòng chưa đầy 5-6 tuần.

Trong trường hợp nặng, phẫu thuật được thực hiện với những vết thương kết hợp. Phương pháp này không được sử dụng thường xuyên, khi chẩn đoán là bị gãy xương bả vai. Điều trị và phục hồi sau nó là phức tạp hơn và lâu hơn.

loại cố định

Sửa tay ở một vị trí đặc biệt giúp đan cùng lưỡi dao đúng cách. Điều cần thiết ở cố định của gãy xương của lưỡi? Fixation với thạch cao tại được sử dụng rất hiếm khi.

Tương đương hiện đại cố định như vậy là thuận tiện hơn nhiều. Da bên dưới nó thở, và không có phát ban tã, đặc biệt là vào mùa hè. Ngoài ra, khi bao phủ một bệnh nhân băng trải qua ít khó chịu và đau đớn. Thủ tục nhanh chóng. Với một băng váy thuận tiện như thế và di chuyển xung quanh.

Do đó, sự khó chịu kinh nghiệm của bệnh nhân trong khi mặc tối thiểu. Cùng với đeo băng desault bổ nhiệm thể dục dụng cụ y tế cho vũ khí. Thông thường nó được thực hiện cho xương của bàn tay và khuỷu tay.

Tại thời điểm chuyển giao cổ được tổ chức theo nhiều cách khác cố định. Thực hiện sửa chữa cánh tay thoát qua xe buýt. Trong chuyển thư cổ tử cung xảy ra trước xương kéo dài. Thủ tục này mất khoảng 4 tuần. Sau khi tay này được đặt trên một cái gối thiết kế đặc biệt và biểu diễn thể dục dụng cụ khác 2 tuần. Phương pháp này là rất hết bệnh nhân và phục hồi chức năng bị chậm 5-6 tuần.

Các biến chứng sau chấn thương

Bước ngoặt của lưỡi không phải là vô hại như nó có vẻ. Trong điều trị, có thể xảy ra xương trật của cẳng tay. Điều này là do không có khả năng giữ lại các mảnh vỡ của người đứng đầu lưỡi của xương cánh tay.

Trong những vết thương sụn trong khớp vai. Qua thời gian, bệnh nhân ở nơi này có thể phát triển viêm khớp. Dời khuôn mặt gãy của biến dạng lưỡi. Sau đó, xương không thể di chuyển tự do trong xương sườn. Nó được đi kèm với đau đớn và khủng hoảng khó chịu.

Phẫu thuật có thể gây ra:

bong gân mãn tính;

teo cơ bắp;

đau dây thần kinh liên sườn;

độ cứng trong phong trào cánh tay.

Nhưng nếu thời gian không thực hiện các hoạt động, người đó có thể hoàn toàn mất hiệu quả và vẫn còn tàn tật. Điều quan trọng là để phản ứng kịp thời để gãy của xương bả vai. Hậu quả của một nhân vật tiêu cực sau đó sẽ được giảm đến mức tối thiểu.

Thời gian chính – Phục hồi chức năng

Từ những ngày đầu tiên cố định là cần thiết để đối phó với vật lý trị liệu. Trong trường hợp này, không gây tác động tiêu cực của một xương bả vai bị gãy. Phục hồi chức năng nên được thực hiện bởi các chuyên gia. Một cách độc lập không có tập thể dục không cần, hoặc bạn có thể gây thiệt hại cho xương bị ảnh hưởng.

Dưới sự giám sát của một bác sĩ có kinh nghiệm là cần thiết để dành một vài phiên. Sau đó bạn có thể tiếp tục các bài tập ở nhà. Bạn nên bắt đầu với một vài bài tập cho ngón tay. Mọi thủ tục được thực hiện và tải với tốc độ chậm.

Trong giai đoạn này, cần thiết để có chổ cong giới hạn và mở rộng của ngón tay. Bạn cũng có thể thực hiện một chuyển động tròn với một bàn chải. Tập thể dục nên có một thời gian không ít hơn 15 phút. Vào ngày làm 4-5 reps.

10 ngày sau khi bị thương bạn có thể tiến hành các bài tập cho các cơ bắp vai. Đối với điều này làm chậm giơ tay lên khi bạn cảm thấy đau đớn. Đôi khi, sau 2 tuần đeo băng desault nó thay đổi để loại kosynochny vào việc định hình. Trong trường hợp này, phạm vi tập thể dục có thể được phần nào mở rộng.

Trong mặc desault mặc bác sĩ có thể kê toa đoạn vật lý trị liệu. Trong trường hợp này, sử dụng UHF và liệu pháp từ tính. Thủ tục giúp đỡ để giảm bớt tình trạng viêm và loại bỏ đau đớn. Ngoài ra, xương lành nhanh hơn nhiều.

Phục hồi sau khi loại bỏ cố định

Trong giai đoạn này của phục hồi chức năng và trung cường độ tập thể dục để trở nên nổi bật. Nếu thời gian phục hồi chức năng và chính xác, khả năng làm việc để phục hồi hoàn toàn trong vòng một vài tuần.

cường độ tập thể dục không ngừng phát triển, và khuyến khích việc sử dụng các dụng cụ thể thao:

quả bóng;

gỗ và nhựa gậy;

kẹo cao su thể thao;

expanders;

quả bóng cao su nhỏ cho tập thể dục tay và các ngón tay.

Tất cả phục hồi chức năng nhằm mục đích khôi phục lại hoạt động của cơ bắp suy yếu và khớp. bài học chào đón trong nước. Do đó, bệnh nhân trải qua ít căng thẳng, và phục hồi chức năng có thể kéo dài đến 40 phút.

Thứ nhất, tốt hơn để giữ bài tập trong phòng tắm, trong nước ấm. Trong trường hợp này, cơ bắp hấp và dễ dàng hơn để căng và co. Sau một vài phiên giao dịch, bạn có thể bắt đầu bơi lội trong hồ bơi hay ao vào mùa hè.

Không cần phải đầu tiên đưa ra một áp lực mạnh mẽ trên cơ thể. Mục tiêu chính – sự phục hồi dần dần của tất cả các nhóm cơ bắp và khớp.