Dấu Hiệu Và Triệu Chứng Ung Thư Vòm Họng / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Zqnx.edu.vn

Triệu Chứng Ung Thư Vòm Họng

Triệu chứng ung thư vòm họng giai đoạn sớm thường không có biểu hiện gì quá rõ ràng, chính vì vậy nên việc chẩn đoán bệnh gặp nhiều khó khăn và cũng dễ bị nhầm lẫn với các bệnh thông thường khác. Hạch cổ nổi một bên là triệu chứng của ung thư vòm họng rất thường gặp, hạch cứng kích thước có thể từ 2 – 3 cm đến 7 – 8 cm, xung quanh không có dấu viêm nhiễm như sưng, nóng đỏ và đau, ban đầu di động sau đó thì dính vào tổ chức xung quanh, vị trí thường là góc hàm, bên cổ.

Nhìn chung triệu chứng của ung thư vòm họng gồm những biểu hiện như:

1. Chảy máu cam: Là một trong những triệu chứng sớm nhất của ung thư vòm họng, nước mũi chủ yếu chảy ra từ một bên có kèm theo máu. Hầu hết bệnh nhân thường nuốt nước mũi và nhổ ra theo đường miệng khiến vì vậy khiến nước mũi kèm theo máu dễ bị chẩn đoán nhầm hoặc bị bỏ qua. Giai đoạn cuối có thể gây chảy máu liên tục.

2. Nghẹt mũi: Sau khi xuất hiện khối u, sẽ có hiện tượng tắc 1 bên mũi, khi khối u to lên sẽ khiến 2 bên đều bị nghẹt.

3. Ù tai và nghe kém: Khối u cản trở và đè lên thực quản, đồng thời gây ù tai, nghẹt tai, nghe kém hoặc kèm theo tràn dịch tympanic.

4. Nhức đầu: Thường do khối u phá hủy nền sọ, dẫn đến di căn vàog não và dây thần kinh sọ. Ở kỳ cuối, dễ bị chẩn đoán nhầm là đau thần kinh.

5. Nổi hạch ở cổ: Theo thống kê, ung thư vòm họng di căn phần cổ chiếm 40-85%. Do vòm họng có cấu trúc mô bạch huyết phong phú, các tế bào ung thư dễ dàng lan sâu lên trên cổ muộn hơn phát triển vào trong, xuống dưới, ra phía trước và hai bên. Khi phát triển số lượng càng nhiều , tốc độ càng nhanh, hạch cứng và không cho cảm giác đau đớn, tính hoạt động kém; vào giai đoạn cuối sẽ bám dính cố định.

6. Hội chứng nội sọ: Khối u trong não bị vỡ lan sang các dây thần kinh sọ não gây ra các hội chứng nội sọ như nhức đầu, tê bì mặt, mờ mắt, xệ mí, lác trong, thậm chí mù. Hạch bạch huyết di căn xuyên qua các dây thần kinh sọ não ở nền sọ dẫn đến mất cảm giác ở cổ họng, vòm miệng tê liệt, nhai nuốt khó khăn, khàn giọng, liệt màn hầu.

7. Di căn: Trong giai đoạn cuối, ung thư vòm họng di căn ở phạm vi mắt, não, xương, phổi, gan và các bộ phận khác, đặc biệt là ở phổi và xương. Nếu người bệnh phát hiện triệu chứng nặng ở bộ phận nào, như một số bộ phận xương cố định bị đau, máu có đờm, thường xuyên đau ngực, gan sưng to, nhãn cầu lồi, thị lực giảm…cho thấy bệnh đã di căn.

Các Triệu Chứng Của Ung Thư Vòm Họng

Ung thư vòm họng là có tỉ lệ rất cao trong ung thư vùng đầu cổ và ung thư toàn cơ thể nói chung. Ung thư vòm họng vì ở một vị trí rất sâu mà chúng ta không thể quan sát được bằng mắt thường mà chúng ta phải sử dụng dụng cụ nội soi hoặc soi gián tiếp đẻ phát hiện ra ung thư vòm họng.

Ung thư vòm họng có đặc điểm hơn các ung thư khác là triệu chứng của ung thư vòm họng thường mượn triệu chứng của các cơ quan khác: mũi, mắt, tai… để biểu hiện ra.

Ung thư vòm họng rất khó phát hiện nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị sớm thì tiên lượng sống trên 5 năm hoặc trên 10 năm sẽ rất cao.

Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất gây ra ung thư vòm họng, người ta hay nghĩ đến nhất và hiện tại rất nhiều công trình nghiên cứu về yếu tố này là siêu Virut Epstein-Barr nhưng chưa đc khẳng dịnh. Các yếu tố còn lại như là dịch tễ – tập tục sống ăn nhiều cá và mắm, dưa muối …

Triệu chứng của ung thư vòm họng

Do khối u nằm ở nơi cao nhất của đường hô hấp và tiêu hóa nên các triệu chứng thường kín đáo và cũng chỉ là triệu chứng mượn của các cơ quan lân cận như mũi, tai. Trên thực tế cho thấy các bệnh nhân ung thư vòm họng hầu hết chỉ đến khám ở các giai đoạn muộn.

Triệu chứng về thần kinh: đau đầu hoặc nhức nửa đầu kéo dài.

Triệu chứng hạch: hạch cổ nổi một bên là triệu chứng rất thường gặp, hạch cứng kích thước có thể từ 2-3 cm đến 7-8 cm, xung quanh không có dấu hiệu viêm nhiễm như sưng, nóng đỏ và đau, ban đầu di động sau đó thì dính vào tổ chức xung quanh, vị trí thường là góc hàm, bên cổ.

Nghẹt mũi: là thường gặp lúc đầu một bên sau đó có thể nghẹt cả hai bên hoặc ban đầu là chảy máu mũi, chảy nhiều lần mỗi lần một ít, hoặc chảy chất nhầy từ mũi do viêm xoang thứ phát sau ung thư.

Ù tai hoặc nghe kém, đau trong tai và vùng thái dương.

Nhức đầu: đau đầu liên tục hoặc đau nửa đầu, ngoài ra còn đau quanh mắt, sau ổ mắt, hoặc tê vùng mắt, tuy nhiên có thể bị lé mắt do ung thư xâm lấn gây liệt dây thần kinh.

Hội chứng nội sọ: Khối u trong não bị vỡ lan sang các dây thần kinh sọ não gây ra các hội chứng nội sọ như nhức đầu, tê bì mặt, mờ mắt, xệ mí, lác trong, thậm chí mù. Hạch bạch huyết di căn xuyên qua các dây thần kinh sọ não ở nền sọ dẫn đến mất cảm giác ở cổ họng, vòm miệng tê liệt, nhai nuốt khó khăn, khàn giọng, liệt màn hầu.

Di căn: Trong giai đoạn cuối, ung thư vòm họng di căn ở phạm vi mắt, não, xương, phổi, gan và các bộ phận khác, đặc biệt là ở phổi và xương. Nếu người bệnh phát hiện triệu chứng nặng ở bộ phận nào, như một số bộ phận xương cố định bị đau, máu có đờm, thường xuyên đau ngực, gan sưng to, nhãn cầu lồi, thị lực giảm…cho thấy bệnh đã di căn .

Đa phần bệnh nhân ung thư vòm họng thường được chẩn đoán ở các giai đoạn muộn (3 hoặc 4). Các triệu chứng của ung thư vòm họng thường là mượn các triệu chứng của các cơ quan khác nên dễ bị bỏ qua. Chỉ cần xuất hiện 2 trong số các triệu chứng trên thì cần phải đến chuyên khoa tai mũi họng để khám và điều trị sớm nhất mới đem lại hiệu quả chữa trị.

Dấu Hiệu Của Ung Thư Vòm Họng Như Thế Nào?

Ung thư vòm họng hay còn được gọi là ung thư vòm hầu, nằm ở phía sau khoang mũi và phần trên của họng.

Ung thư bắt đầu khi có một hoặc nhiều biến đổi gen xảy ra khiến cho các tế bào bình thường tăng trưởng vượt mức kiểm soát, lấn chiếm các cấu trúc xung quanh và thậm chí lan đến (di căn) các cơ quan khác của cơ thể. Trong ung thư vòm họng, tiến trình này bắt đầu xảy ra ở các tế bào vảy, phủ trên bề mặt mũi họng.

Ung thư vòm họng cực kì khó phát hiện sớm vì vùng vòm họng không dễ dàng kiểm tra. Và triệu chứng của ung thư vòm họng gần giống với các biểu hiện của bệnh hay gặp khác như viêm họng.

II. Những dấu hiệu của ung thư vòm họng

Ung thư vòm họng thường có những triệu chứng mơ hồ trong giai đoạn đầu. Những triệu chứng có khả năng nhận biết của ung thư vòm họng gồm có:

Chảy máu mũi

Nước bọt dính máu

Thường bị nhiễm trùng tai

Ngạt mũi

Suy giảm thính lực (điếc)

Một khối u ở cổ do hạch bạch huyết phình to

Đau đầu

III. Khi nào cần gặp bác sĩ

Các dấu hiệu của ung thư vòm họng giai đoạn khởi phát quá mơ hồ nên bệnh nhân thường không đến gặp bác sĩ mà hay tự chữa trị ở nhà. Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy cơ thể có những thay đổi khác thường và dai dẳng như nghẹt mũi không bình thường, K Dược khuyên chân thành bạn hãy đến gặp bác sĩ.

IV. Những lý do gây bệnh

V. Các yếu tố nguy cơ

Các nhà nghiên cứu đã xác định vài yếu tố làm tăng khả năng cao tăng trưởng ung thư vòm họng, bao gồm:

Giới tính: Ung thư vòm họng thường gặp ở nam hơn ở nữ.

Chủng tộc: Đây là loại ung thư thường xảy ra với người châu Á và Bắc Phi

Tuổi: Ung thư vòm họng có khả năng xảy ra ở bất cứ tuổi nào, nhưng hầu hết được chẩn đoán ở người trưởng thành từ 30 đến 50 tuổi.

Thực phẩm ướp muối: Các hóa chất được phóng thích thành hơi khi nấu những đồ ăn có ướp muối như cá muối và rau quả bảo quản, hơi này có thể đi vào khoang mũi làm tăng khả năng cao ung thư vòm họng. Tiếp xúc với những hóa chất này từ khi còn nhỏ tuổi thậm chí làm tăng khả năng mắc bệnh cao hơn.

Tiểu sử gia đình. Nếu trong gia đình có một người bị ung thư vòm họng thì khả năng cao bị bệnh này cũng tăng.

VI. Các biến chứng

Biến chứng ung thư vòm họng bao gồm:

Ung thư tăng trưởng, xâm chiếm những cấu trúc lân cận. Ung thư vòm họng giai đoạn cuối có khả năng gây ra biến chứng nếu ung thư tăng trưởng đủ lớn để xâm nhiễm những cấu trúc lân cận như họng, xương và não.

Ung thư có khả năng lan sang những khu vực khác của cơ thể. Ung thư vòm họng thường lan (di căn) xa hơn mũi họng. Hầu hết những người mắc ung thư vòm họng đều có di căn chỗ. Có nghĩa là các tế bào ung thư trong khối u ban đầu di chuyển sang các khu vực kế cận như hạch bạch huyết ở cổ. Tế bào ung thư có thể lan đến các phần khác của cơ thể (di căn xa) thường là di căn đến xương, phổi, và gan.

VII. Xét nghiệm và chuẩn đoán

Khi thấy những dấu hiệu của ung thư vòm họng kể trên, tốt nhất bạn nên đi tầm soát ung thư để có phương hướng điều trị kịp thời.

7.1 Các xét nghiệm và thủ thuật được dùng để chuẩn đoán ung thư vòm họng bao gồm:

Thăm khám, chuẩn đoán ung thư vòm họng thường bắt đầu bằng khám bệnh tổng quát. Bác sĩ sẽ hỏi người bệnh về những biểu hiện. Bác sĩ sẽ ấn vào cổ người bệnh để biết hạch bạch huyết có bị phình to hay không.

Sử dụng camera để kiểm tra bên trong mũi họng bệnh nhân. Nếu nghi ngờ có ung thư vòm họng, bác sĩ có thể đề nghị nội soi mũi. Thủ thuật này được thực hiện bằng cách dùng một ống nhỏ, mềm có gắn camera ở đầu để nhìn thấy bên trong mũi họng của bệnh nhân và tìm các khối u. Camera này có khả năng được đưa qua mũi hoặc qua phần hở ở phía sau họng để đi lên vòm họng. Nội soi mũi có thể cần phải gây tê tại chỗ để thực hiện.

Thủ thuật lấy mẫu mô nghi ngờ ung thư. Bác sĩ cũng có khả năng dùng ống nội soi hoặc dụng cụ khác để lấy ra một mẫu mô nhỏ (sinh thiết) để xét nghiệm ung thư.

7.2 Xét nghiệm để xác định giai đoạn ung thư

Khi đã chẩn đoán xác định ung thư, bác sĩ có khả năng yêu cầu thực hiện thêm những xét nghiệm khác để xác định mức độ (giai đoạn) ung thư, chẳng hạn như các xét nghiệm hình ảnh. Xét nghiệm hình ảnh có khả năng bao gồm chụp quét cắt lớp điện toán (CT), chụp cộng hưởng từ ( MRI), chụp xạ hình cắt lớp bằng bức xạ positron (PET) và X quang.

Khi bác sĩ đã xác định được mức độ ung thư, thì giai đoạn ung thư sẽ được biểu thị bằng một chữ số La Mã. Giai đoạn ung thư và nhiều yếu tố khác được sử dụng để quyết định kế hoạch trị liệu và tiên liệu thời gian sống. Nếu chữ số La Mã thấp có nghĩa là ung thư còn nhỏ và chỉ giới hạn trong mũi họng. Chữ số lớn hơn có nghĩa là ung thư đã lan rộng ra khỏi mũi họng đến hạch bạch huyết ở cổ hoặc những khu vực khác của cơ thể. Các giai đoạn của ung thư vòm họng được xếp từ I đến IV.

Bác sĩ và người mắc bệnh cùng trao đổi với nhau để chọn kế hoạch trị liệu dựa vào nhiều yếu tố như giai đoạn ung thư, mục tiêu điều trị, thể trạng của người mắc bệnh và các tác dụng phụ mà người mắc bệnh có thể chịu đựợc. Trị liệu ung thư vòm họng thường bắt đầu bằng bằng xạ trị hoặc phối hợp xạ trị và hóa trị.

8.1 Xạ trị

Xạ trị sử dụng các tia năng lượng cao như tia X để phá hủy tế bào ung thư. Xạ trị ung thư vòm họng thường được thực hiện theo một liệu pháp được gọi là chiếu tia ngoài. Khi xạ trị, người mắc bệnh nằm dài trên một bàn phẳng, máy xạ xoay chuyển chung quanh phát tia nhắm đúng vào vị trí ung thư của người bệnh.

Đối với các khối u vòm họng nhỏ, xạ trị có thể là liệu pháp duy nhất cần phải thực hiện. Trong những trường hợp khác, có thể kết hợp xạ trị với hóa trị.

Hóa trị là cách điều trị bằng thuốc có sử dụng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc hóa trị có thể là thuốc dạng viên, hoặc được tiêm qua tĩnh mạch hoặc cả hai. Hóa trị có khả năng được dùng để chữa trị ung thư vòm họng bằng ba phương pháp:

Hóa trị được thực hiện cùng lúc với xạ trị. Khi hai phương pháp này được kết hợp, hóa trị có thể làm tăng hiệu quả của xạ trị. Điều trị kết hợp được gọi là liệu pháp đồng thời hay xạ hóa trị. Tuy vậy tác dụng phụ của hóa trị cộng thêm tác dụng phụ của xạ trị, làm cho bệnh nhân trở nên suy kiệt hơn.

Hóa trị sau xạ trị. Bác sĩ có thể đề nghị hóa trị sau xạ trị. Hóa trị được dùng để tiêu diệt những tế bào ung thư còn lại trong cơ thể, kể cả các tế bào ung thư có khả năng đã bị vỡ ra từ khối u ban đầu và lan đến những nơi khác. Vẫn còn một số tranh cãi về phương pháp kết hợp như thế này. Vì nhiều người đã trải qua hóa trị không thể chịu đựng được những tác phụ và phải ngưng trị liệu.

Hóa trị trước xạ trị. Hóa trị hỗ trợ được thực hiện trước xạ trị đơn thuần hoặc. Cần nghiên cứu thêm để xác định hóa trị hỗ trợ mới có khả năng cải thiện tỷ lệ sống ở người mắc ung thư vòm mũi họng hay không.

Bác sĩ sẽ quyết định cho người bệnh được chữa trị thuốc hóa trị nào và trong khoảng cách bao lâu. Các tác dụng phụ có thể xảy ra tùy thuộc vào loại độc dược mà bệnh nhận được điều trị.

8.3 Phẫu thuật

Phẫu thuật thường không được dùng trong ung thư vòm họng. Phẫu thuật có thể được sử dụng để cắt bỏ những hạch bạch huyết ung thư ở cổ. Trong một vài trường hợp, phẫu thuật có thể được dùng để cắt bỏ một khối u ở vòm họng. Với liệu pháp này, phẫu thuật viên phải thực hiện một đường rạch ở phần vòm miệng của người bệnh để tiếp cận khu vực có khối u nhằm cắt bỏ mô ung thư.

8.4 Liệu pháp đào thải gốc tự do

Bệnh Ung Thư Vòm Họng

Ung thư vòm họng là loại bệnh ung thư xuất phát từ các tế bào biểu mô ở vùng vòm họng. Ung thư vòm họng là thể ung thư thường gặp nhất trong số các ung thư ở vùng đầu cổ và là một trong mười ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam. Ung thư vòm họng có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp ở nam giới, dac95 biệt độ tuổi từ 20 tuổi đến 65 tuổi.

Virus hướng lymphô Epstein Barr là loại virus người, thuộc nhóm Herpes, là nguyên nhân gây u lympho Burkitt ở Châu phi. Gần đây người ta nhận thấy EBV có mặt thường xuyên (100) ở bệnh tích K vòm.

Tiếp xúc với hơi các hóa chất độc, thuốc trừ sâu, phóng xạ…Điều kiện sống thấp.

Thói quen hút thuốc lá, uống rượu. Thói quen ăn các thức ăn làm dưa, làm mắm; chiên nướng, thức ăn có thầu dầu, thức ăn ẩm mốc. Thắp nhiều hương khói. Người ta nhận thấy nồng độ Nitrosaminecủa những người K vòm cao hơn ở người bình thường.

Nitrit có nhiều trong các loại củ cải, cải bẹ, cải bắp khi muối dưa nhờ sự lên men sẽ chuyển nitrat thành nitrit.

Triệu chứng và quá trình điều trị ung thư vòm họng

Do triệu chứng của người mắc ung thư vòm họng không điển hình và tương đối giống với các bệnh tai mũi họng thông thường như nghẽn mũi, gây ngạt mũi, ù tai, tức như bị nút ráy tai, nghe kém … vì vậy việc phát hiện bệnh sớm là tương đối khó khăn.

Ở giai đoạn đầu có tới 80 bệnh nhân ung thư vòm họng bị nhức đầu lan tỏa, âm ỉ và thường ở một bên đầu. Ù tai chiếm 70 ca bệnh, đa số ù một bên tai, lúc nào cũng như có tiếng ve kêu, ngạt một bên mũi lúc nặng, lúc nhẹ, có khi chảy máu mũi. Ở giai đoạn muộn, người bệnh nhức đầu liên tục, có lúc đau dữ dội. Ù tai tăng dần dẫn tới nghe kém hoặc điếc. Mũi ngạt nặng liên tục và thường có chảy máu mũi.

Tổ chức ung thư vòm họng khi xâm lấn tới nền sọ (giai đoạn muộn) có thể gây tổn thương các dây thần kinh sọ não. Thường 80 số bệnh nhân khi được chẩn đoán ung thư vòm họng đã có hạch cổ. Hạch thường nằm ở cùng bên với khối u. Trong số đó có trên 60 bệnh nhân nổi hạch cổ ngay từ đầu và chính vì sự nổi hạch bất thường này mà người bệnh đi khám.

Khi bị ung thư vòm họng, các xét nghiệm cần làm là chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học. Chẩn đoán tế bào học là lấy tế bào bong ở khối u bằng tăm bông, hoặc chọc kim nhỏ vào hạch lấy ít tế bào, cố định trên lam kính, nhuộm rồi soi trên kính hiển vi quang học có độ phóng đại 100 đến 1.000 lần. Chẩn đoán mô bệnh học là lấy một mảnh nhỏ ở tổ chức u hoặc nghi ngờ khối u, hoặc lấy ở hạch cổ bằng kim bấm chuyên dụng. Mảng sinh thiết được cố định bằng dung dịch chuyên dụng, sau đó vùi trong paraphin rồi cắt mỏng 3-4 phần nghìn milimét, nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.

Ngoài ra, có thể làm các xét nghiệm khác như: chụp X-quang hộp sọ, chụp cắt lớp vi tính, chụp X-quang phổi, siêu âm gan, xét nghiệm miễn dịch về virus EBV.

Ung thư vòm họng được điều trị chủ yếu bằng tia xạ. Các trường hợp muộn có kết hợp hóa trị. Để điều trị di căn tới hạch, xương, phổi, gan…, tùy trường hợp, có thể dùng phương pháp cắt bỏ kết hợp với tia xạ hoặc hóa chất. Một trong những phương thuốc hỗ trợ điều trị hiệu quả nên kết hợp với y học hiện đại trng quá trình điều trị ung thư vòm họng là sử dụng Nấm Linh Chi nguyên chất.

Nấm Lim Xanh hỗ trợ điều trị ung thư vòm họng rất tốt

Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Phó Trưởng Khoa – Khoa Khoa học Trường Đại học Nông Lâm, phụ trách Dự án Linh Chi Nông Lâm (www.namlinhchinonglam.vn) cho biết công dụng của Nấm Linh Chi trong việc điều trị bệnh, Tiến Sĩ Hiếu Cho biết:

“Cấu trúc độc đáo của Nấm Linh Chi chính là thành phần khoáng tố vi lượng đủ loại (119 chất), trong đó một số khoáng tố như Germanium hữu cơ, vanadium, crôm… các hợp chất polysaccharides và triterpenoids… đã được khẳng định là nhân tố quan trọng cho việc tăng cường sức đề kháng,.Nấm Linh Chi giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, nâng đỡ thể trạng bồi bổ cơ thể, đặc biệt thành phần polysarccharides trong Nấm Linh Chi có tác dụng khống chế sự phát triển của các tế bào bất thường (tác nhân gây ung thư, ung bướu) nên Linh Chi còn được sử dụng trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư và hỗ trợ điều trị sau hóa trị, xạ trị…

Quả thể nấm linh chi đỏ giúp hỗ trợ điều trị ung thư

Tiến Sĩ Hiếu khuyên nên sử dụng Nấm Linh Chi hàng ngày như một loại thức uống để giúp ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư vòm họng cũng như các bênh viêm gan, cao huyết áp, tiểu đường…

Tiến Sĩ nguyễn Văn Hiếu – Phụ trách dự án Linh Chi Nông Lâm – Thành Viên Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ Trường Đại Học Nông Lâm chúng tôi