Biểu Hiện Sớm Của Bệnh Uốn Ván Rốn / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Zqnx.edu.vn

Bệnh Uốn Ván Rốn Sơ Sinh

I. Đại cương

Vi khuẩn gây bệnh uốn ván là Clostridium tetani, nằm trong đất, bùn, phân trâu, bò, có nha bào bọc nên đời sống kéo dài. Muốn diệt vi khuẩn này thể dinh dưỡng, nhiệt độ 56 – 60°C trong 30 phút, thể nha bào phải đạt nhiệt độ 120°C trong 30 phút, dung dịch Iod 1% và Oxy già diệt vi khuẩn trong vài giờ. Vi khuẩn thường theo các vết thương ngoài a, vết trầy xước từ đó xâm nhập vào cơ thể. Vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố gồm 2 yếu tố:

+ Yếu tố gây co giật làm ngộ độc thần kinh, gây co thắt các cơ hàm, lưng, cổ và cơ hô hấp gây ngạt thở.

+ Yếu tố làm huỷ hoại HC, BC gây hoại tử và độc với tim.

Ở trẻ sơ sinh bị uốn ván rốn do dụng cụ cắt rốn không đảm bảo vô trùng, do tay người đỡ đẻ không vô khuẩn, băng gạc không vô trùng, vi trùng xâm nhập qua vết cắt rốn, gây bệnh. Uốn ván rốn hay gặp ở các trường hợp đẻ rơi, ở nhà hoặc dọc đường, thiếu phương tiện vô trùng để cắt rốn.

II. Giải phẫu cuống rốn

Cuống rốn có 2 động mạch và 1 tĩnh mạch. Cấu trúc của cuống rốn gồm 2 màng nội sản mạc phía ngoài, tiếp nối với hạ bì của da bụng thai nhi. Nội sản mạc bao bọc ba mạch máu rốn, có chất đệm nhờn trắng gọi là thạch Wharton, được nuôiưỡng qua sự thẩm thấu qua thành các mạch máu rốn. Khi cắt rốn phải chú ý sát trùng mặt cắt rốn bằng cồn Iod, vì từ đó vi khuẩn có thể dễ dàng xâm nhập vào cơ thể, đoạn rốn còn lại sẽ teo lại và rụng ngay chỗ tiếp giáp của lớp thượng bì, trên vùng thạch Wharton sẽ xuất hiện tổ chức hạt và sẽ tạo thành da bao phủ. Vì vậy nhiễm khuẩn rốn và uốn ván rốn có thể xảy ra khi cắt rốn không vô trùng và chăm sóc rốn không đảm bảo sạch khi rốn chưa rụng, chưa thành sẹo da.

III. Triệu chứng lâm sàng

Thời gian ủ bệnh 4 – 15 ngày, trung bình 10 ngày. Thời gian ủ bệnh ngày càng ngắn bệnh càng nặng, nếu trong vòng 1 tuần thì tử vong càng cao.

Dấu hiệu đầu tiên là bỏ bú hoặc bú rất khó khăn, không há miệng được. Sau 24h triệu chứng càng nặng, cứng hàm liên tục, co cứng toàn thân, Mặt, cổ, lưng, bụng, chân tay đều co cứng, 2 tay nắm chặt. Các kích thích do tiếng động, chạm vào da trẻ làm toàn thân co cứng, miệng chúm chím, mặt nhăn nhó.

IV. Điều trị

Cần phát hiện sớm khi trẻ mới bắt đầu bỏ bú

– Cho trẻ nằm yên tĩnh, tránh mọi kích thích bên ngoài, tránh thăm khám nhiều.

– Nên đặt trẻ trong lồng kính hoặc giườngấm, tránh tiếng động và ánh sáng.

– Bảo đảm nhu cầu nước, điện giải, năng lượng bằng truyền tĩnh mạch

– Cho ăn sữa mẹ hoặc sữa đặc hiệu qua ống sonde dạ dày.

– Dự phòng viêm phổi do hít chất nhày từ hầu họng bằng cách cho ăn ít hoặc không ăn nếu còn đe dọa nôn.

– Vệ sinh rốn bằng oxy già.

– Kháng huyết thanh chống uốn ván từ 10.000 – 20.000 đơn vị/ ngày

– Kháng sinh đề phòng bội nhiễm, thường dùng 10.000 – 20.000đv/ngày. Hoặc kháng sinh phổ rộng nhóm Cephalosporinn 40 – 50mg/kg/ngày tùy theo tình trạng nhiễm trùng.

– Chống co giật bằng các loại thuốc an thần Phenobarbital 15 – 20mg/kg/ngày. Diazepam 0,5 – 10mg/kg/ngày. Tiêm TM khi co giật. Chlorpromazin, dilantin có thể sử dụng để chống co giật.

– Thông khí phổi viện trợ nếu có khó thở, tím tái. Trường hợp nặng phải dùng máy thở. Bị co thắt nặng có thểùng giãn cơ Curare. Luôn khiểm tra khí trong máu.

V. Dự phòng uốn ván rốn

– Đỡ đẻ an toàn, bảo đảm đầy đủ các phương tiện đỡ đẻ vô khuẩn. Khi cắt rốn phải sát khuẩn bằng cồn Iod 1 – 3%, tuân thủ mọi nguyên tắc vô khuẩn. Hướng dẫn bà mẹ đi khám thai định kỳ tránh đẻ rơi.

– Tiêm vacin phòng uốn ván: Tiêm 2 mũi Vacin phòng uốn ván trong quá trình mang thai. Kháng thể uốn ván được tạo ra trong cơ thể mẹ truyền sang cho thai có khả năng phòng bệnh cho trẻ trong giai đoạn sơ sinh. Khoảng cách giữa 2 lần tiêm ít nhất 30 ngày, mũi thứ 2 tiêm trước đẻ ít nhất là 2 tuần

– Đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, có thể được miễn nhiễm trọn đời nếu được tiêm chủng đầy đủ như sau:

+ Mũi thứ 1: Tiêm ở tuổi dạy thì hoặc từ 16 tuổi

+ Mũi thứ 2: Tiêm cách mũi thứ nhất ít nhất 30 ngày.

+ Mũi thứ 3: Tiêm cách mũi 2 ít nhất 6 tháng

+ Mũi thứ 4: Tiêm cách mũi 3 ít nhất 1 năm hoặc khi có thai lại

+ Mũi thứ 5: Tiêm cách mũi 4 ít nhất 1 năm hoặc khi có thai lại

Đối với trẻ sơ sinh, cần được tiêm chủng đầy đủ theo lịch tiêm chủng của chương trình tiêm chủng Quốc gia.

Biểu Hiện Và Cách Ngăn Ngừa Bệnh Uốn Ván Hiệu Quả

Lưng cong cứng, ưỡn ngược ra sau như chiếc đòn gánh, người cứng đơ, khó thở. Thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Đó chính là một trong những biểu hiện của bệnh uốn ván.

Bệnh uốn ván là bệnh gì?

Theo các bác sĩ tại Bệnh viện An Việt, bệnh uốn ván hay còn gọi là chứng phong đòn gánh, là chứng bệnh làm căng cứng các bắp thịt trong cơ thể, có nguy cơ tử vong cao (chiếm khoảng 25 – 90%). Đặc biệt đối với trẻ sơ sinh, tỷ lệ này lên đến 95%. Bệnh uốn ván xuất hiện ở tất cả mọi nơi trên thế giới, nhưng phổ biến nhất là ở vùng nông thôn, ở các nước chậm phát triển khi mà các chương trình tiêm chủng mở rộng gần như không có.

Hiện nay tại Việt Nam, tiêm phòng uốn ván là điều kiện bắt buộc đã được bộ Y tế khuyến cáo. Nhưng không vì thế mà tất cả mọi người đều tuân thủ và miễn nhiễm với căn bệnh này. Thực tế có rất nhiều trường hợp tử vong do nhiễm trùng uốn ván.

Bệnh uốn ván là một loại bệnh nhiễm trùng cấp tính do độc tố của trực khuẩn uốn ván có tên là Clostridium tetani gây ra. Một khi cơ thể bị tổn thương (như các vết rách trên da, vết chích da, viêm tai giữa, phẫu thuật, sinh đẻ, bỏng, sảy thai,..) tiếp xúc trực tiếp với trực khuẩn này sẽ rất dễ mắc bệnh uốn ván. Tỷ lệ tử vong được cho là khá cao nếu người bệnh không có cách chữa trị nhanh chóng.

Thông thường, trực khuẩn Clostridium tetani phát triển trong điều kiện yếm khí rồi giải phóng ngoại độc tố vào máu, tấn công vào các bản vận động thần kinh – cơ. Khi đó các bó cơ của bệnh nhân bị căng cứng, đi kèm là các cơn co giật. Nhìn chung, những người có nguy cơ mắc bệnh uốn ván cao thường là người làm việc ở nông trường, trang trại, dọn vệ sinh chuồng trại, cống rãnh, công nhân xây dựng các công trình,…

Trung bình 7 ngày sau chấn thương, uốn ván sẽ khởi phát và có biểu hiện rất rõ rệt. Cụ thể như sau:

Cơ lưỡi bắt đầu bị tê, cứng các cơ hàm, vai, cổ và lưng. Người bệnh có cảm giác khó ăn và khó nuốt.

Căn cứng bụng và các gốc chi, lưng cong cứng và ưỡn ngược ra trước như tấm ván.

Một số trường hợp xuất hiện các cơn co giật toàn thân cấp tính, khiến người bệnh tím tái, có thể dẫn đến ngừng thở và tử vong.

Huyết áp tăng, nhịp tim loạn và đập nhanh, kèm theo đó là hiện tượng sốt, sốt cao ra nhiều mồ hôi.

Trẻ sơ sinh khi bị uốn ván vẫn bú và khóc bình thường trong 2 ngày đầu sau sinh, nhưng từ ngày thứ 3 – 28 trẻ có biểu hiện không bú, bắt đầu co cứng cơ, co giật và hầu hết tử vong.

Uốn ván nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm về tim mạch như hạ huyết áp, nhịp tim chậm, tim ngừng đập, viêm phổi, gãy xương, vỡ cơ,…

Cách ngăn ngừa bệnh uốn ván với vết thương nhỏ tại nhà

Các vết thương bị hở, các vết cắt sâu hoặc vết cắn động vật sẽ khiến bạn có nguy cơ mắc bệnh uốn ván vô cùng cao. Do vậy, nếu vết thương sâu và bị nhiễm khuẩn, bạn cần đến gặp ngay bác sĩ để được điều trị kịp thời.

Bác sĩ sẽ có thể cần phải làm sạch vết thương, kê toa kháng sinh và tiêm vắc xin tiêm phòng uốn ván. Nếu trước đó bạn đã được tiêm phòng uốn ván thì cơ thể bạn sẽ nhanh chóng tạo ra các kháng thể cần thiết để giúp bảo vệ cơ thể của bạn. Nếu bạn có một vết thương nhỏ, những bước sau đây sẽ giúp bạn tránh khỏi nguy cơ mắc bệnh uốn ván:

Giữ máu Dùng áp lực trực tiếp lên vết thương để ngăn ngừa máu chảy ra.

Làm sạch vết thương Rửa vết thương bằng nước máy sạch. Làm sạch các khu vực quanh vết thương bằng xà bông và khăn lau.

Sử dụng kháng sinh Sau khi bạn làm sạch vết thương, hãy bôi một lớp kem kháng sinh hoặc thuốc mỡ mỏng, chẳng hạn như thuốc kháng sinh đa thành phần Neosporin và Polysporin.

Những chất kháng sinh này sẽ không làm cho vết thương lành nhanh hơn, nhưng chúng có thể làm giảm sự phát triển của vi khuẩn và nhiễm trùng. Cần lưu ý rằng một số thành phần trong một số thuốc mỡ có thể gây phát ban nhẹ ở một số người. Do vậy nếu gặp phải triệu chứng này bạn cần ngưng sử dụng thuốc mỡ ngay lập tức.

Băng bó vết thương Việc tiếp xúc với không khí thúc đẩy quá trình lành vết thương được diễn ra nhanh hơn. Tuy nhiên, việc băng bó vết thương sẽ giúp cho vết thương được sạch sẽ và ngăn ngừa sự xuất hiện của vi khuẩn có hại.

Thay băng thường xuyên Thay băng mới ít nhất một lần mỗi ngày hoặc bất cứ khi nào băng vết thương bị ướt hoặc bẩn để tránh nguy cơ nhiễm trùng. Nếu bạn bị dị ứng với chất kết dính được sử dụng trong hầu hết các loại băng vết thương, bạn có thể chuyển sang sử dụng băng keo không dính hoặc băng gạc vô trùng và băng giấy.

Bên cạnh việc xử lý vết thương thật tốt để tránh bị nhiễm trùng, bạn cũng nên đến trạm xá hoặc các cơ sở y tế gần nhất để được hỗ trợ và điều trị kịp thời. Tiêm phòng uốn ván ở bệnh viện an việt cho bản thân và người thân trong gia đình cũng là một cách phòng ngừa bệnh uốn ván hiệu quả.

Uốn Ván Và Chăm Sóc Người Bệnh Uốn Ván

Uốn ván là một bệnh nhiễm khuẩn nhiễm độc do Clostridium Tetani gây nên. Vi khuẩn sinh sản tại nơi xâm nhập, độc tố tiết ra tác động vào dây thần kinh vận động gây co cứng cơ vân và co giật toàn thân. Bệnh diễn biến khó lường trước được, tử vong cao.

Clostridium Tetani là một trực khuẩn Gram (+) yếm khí, bào tử sống nhiều năm trong đất, nhất là những nơi có lẫn phân động vật, chịu được nước sôi 1-3 giờ, đề kháng tốt với dung dịch phenol 5%, tormalin 3%.

Bào tử còn được tìm thấy trong đất bụi, trong ruột các động vật có vú, nhất là ngựa, cừu.

Clostridium Tetani xâm nhập qua đường da, niêm mạc do tai nạn giao thông, vết thương chiến tranh, thủ thuật không vô khuẩn (phá thai…).

Trẻ dưới 5 tuổi và người lớn thường bị bệnh nặng. Tỷ lệ tử vong 30-50%, nam nhiều hơn nữ.

Các vết thương giập nát, sâu, có nhiều mô hoại tử, nhiều đất bụi, thiếu oxy chính là nơi vi khuẩn phát triển tốt.

Từ lúc bắt đầu bị thương đến lúc cứng hàm, trung bình 7-14 ngày. Thời gian ủ bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng.

Bệnh nhân hơi mệt, nhức đầu, mỏi quai hàm, nói khó, nuốt vướng, uống nước sặc. Khi thăm khám thấy cơ nhai co cứng, không có điểm đau rõ rệt, không thể đè lưỡi để làm rộng miệng được.

Triệu chứng có thể tại chỗ (cứng hàm, cứng gáy) hay triệu chứng toàn thân.

Co cứng, đau cơ:

Co cứng bắt đầu là cơ nhai (cứng hàm) rồi đến cơ mặt (cười nhăn mặt), cơ gáy, cơ lưng, cơ bụng, cơ chi dưới (duỗi), cuối cùng là cơ chi trên (co quắp).

Sự co cứng liên tục các cơ toàn thân làm cho bệnh nhân có cảm giác đau nhức.

Co giật cứng toàn thân:

Xảy ra sau một kích thích (đụng chạm, ánh sáng, tiếng ồn…), khi co thắt các cơ hầu họng bệnh nhân khó nuốt, co thắt thanh quản gây nghẹt thở, tím tái, ngừng thở.

Rối loạn cơ năng:

Khó nuốt, khó nói, co cơ hô hấp, tăng tiết đờm nhớt, bí tiểu, bí đại tiện.

Bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo.

Sốt 38-38.5°c

Mạch hơi nhanh 90-120 lần/phút.

Vã mồ hôi sau các cơn giật.

Khi bệnh diễn biến nặng sẽ có sốt cao trên 39°c, mạch nhanh trên 140 lần/ phút, tăng tiết đờm nhốt, lơ mơ hoặc hôn mê vì thiếu oxy não.

Từ ngày thứ 10, các cơn co giật thưa dần, mạch, nhiệt độ trở lại bình thường, miệng há được, rộng dần. Thời kỳ lại sức kéo dài.

Bệnh càng ngày càng nguy kịch, bệnh nhân đi vào hôn mê và tử vong trong vòng vài ngày.

Bệnh đang thuyên giảm thì đột nhiên nguy kịch dẫn đến tử vong. ‘

Dựa vào dịch tễ học và lâm sàng.

Điều trị đặc hiệu

Trung hoà độc tố: Huyết thanh chống uốn ván SAT (Serum Anti Tetanique), phải dùng sốm khi độc tố” còn lưu hành trong máu, chưa gắn vào tế bào thần kinh. 1/2 tiêm bắp, 1/2 tiêm dưới da liều duy nhất: 500 – 10.000 đv/kg (30.000-50.000) nặng 100.000 đv (làm test trước – giải mẫn cảm).

Huyết thanh chống uôh ván tuỳ từng người: 400- 1.000 đv tiêm bắp.

Tác dụng tốt, ít phản ứng.

+ Vaccin giảm độc tố VAT (Vaccin Anti Tetanique); 0,1 ml trong da X 3 lần cách 1 tuần.

+ Kháng sinh penicillin 50.000-100.000 đv/kg/ngày.

Săn sóc quan trọng

Bảo đảm thông đường hô hấp: Thở Oxy hút đờm nhốt, mở khí quản.

Kiểm soát cơn co giật: An thần nhanh kèm giãn cơ.

+ Điều trị nền: 2-4 mg/ kg/ngày chia 4 lần.

+ Dùng diazepam uống: hay nhỏ giọt tĩnh mạch.

+ Điều trị cắt cơn: 0,5mg/kg/lần. Tim mạch chậm có thể dùng thêm phenobarbital, giải quyết nguyên nhân.

Xử lý vết thương: cắt lọc, làm sạch, rửa nước oxy già, dùng kháng sinh diệt khuẩn.

Điều chỉnh rối loạn nước – điện giải, cung cấp năng lượng bằng glucose.

Chống tái phát.

Xử lý vết thương có nguy cơ bị uốn ván.

Rửa sạch bằng nước o xy già.

cất lọc, lấy dị vật.

Không băng quá kín, quá chặt.

Dùng ampicillin 2g/ ngày.

Chích VAT hay SAT:

VAT 0,1 ml trong da X 3 lần cách 1-2 tuần.

Vô khuẩn dụng cụ.

Vệ sinh môi trường.

Chích VAT cho trẻ em – sản phụ.

CHĂM SÓC BÊNH NHÂN BỊ BỆNH UỐN VÁN

Nhận định

Tình trạng hô hấp:

Quan sát da, móng tay chân, đếm nhịp thở,. kiểu thồ, tình trạng tăng tiết.

Bệnh nhân co thắt thanh quản khó thở nặng phải mỏ khí quản, cho thở Oxy.

Hoặc co giật liên tục có cơn ngừng thở hoặc ứ đọng đồm nhớt đưa đến suy hô hấp.

Tình trạng tuần hoàn:

Mạch nhanh yếu, thở yếu, huyết áp dao động là tình trạng nặng.

Có dụng cụ để hồi sức cấp cứu.

Mạch

Theo dõi mạch, huyết áp 30 phút /lần, 1 giờ/ lần, 3 giờ/ lần. Bệnh nhân có biến chứng tim mạch làm rối loạn nhịp tim và ngừng tim.

Tình trạng thần kinh:

Co cứng cơ và đau liên tục.

Co cứng toàn thân.

Rối loạn cơ năng.

Bệnh nhân tỉnh và đau nhiều .

Tình trạng chung:

Đo nhiệt độ: không cao lắm. Nếu sốt cao xem lại có nhiễm khuẩn phổi, đường tiểu hay nhiễm khuẩn ở vết thương hay không .

Vã mồ hôi nhiều sau cơn co giật.

Hôn mê hay lơ mơ do thiếu Oxy não.

Có kế hoạch chăm sóc thích hợp để thực hiện kịp thời, chính xác, đầy đủ các xét nghiệm.

Nếu bệnh nhân hôn mê phải cho ăn qua ống thông dạ dày.

Xem bệnh án để biết:

+ Chẩn đoán.

+ Chỉ định thuốc.

+ Xét nghiệm.

+ Các yêu cầu theo dõi khác, yêu cầu dinh dưỡng; có thể cho bệnh nhân ăn đường miệng không ?

Lập kế hoạch chăm sóc

Bảo đảm thông khí.

Theo dõi tuần hoàn.

Theo dõi các biến chứng.

Thực hiện y lệnh.

Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn.

Phát hiện các dấu hiệu bất thường để xử lý kịp thời.

Chăm sóc hệ thống cơ quan.

Nuôi dưỡng.

Hướng dẫn nội quy.

Giáo dục sức khoẻ.

Thực hiện kế hoạch chăm sóc

Đặt bệnh nhân nằm ngửa, đầu nghiêng sang một bên.

Đặt canuyn Mayor.

Bóp bóng ambu nếu có cơn ngừng thỏ.

Cho thở oxy.

Chuẩn bị dụng cụ, thuốc để trợ thủ bác sĩ mở khí quản.

Theo dõi nhịp thở, tình trạng tăng tiết, sự tím da, môi và đầu ngón.

Hút đờm dãi đúng kỹ thuật.

Đề phòng hít phải chất nôn, chất xuất tiết.

Đề phòng tụt lưỡi.

Cho bệnh nhân có cơn co thắt hầu thanh quản,khó thở nặng.

Theo dõi tuần hoàn:

Lấy mạch, huyết áp, nhiệt độ ngay khi tiếp nhận bệnh nhân và báo cáo ngay bác sĩ.

Theo dõi sát mạch, huyết áp, 30 phút/1 lần, 1 giờ/lần, 3 giò/ lần.

Theo dõi các biến chứng :

Hô hấp.

Tim mạch.

Bội nhiễm.

Xuất huyết tiêu hoá.

Thực hiện các y lệnh: Chính xác kịp thời, đúng giờ.

Thuốc

+ SAT.

+ An thần.

Theo dõi cơn co giật (nhịp độ, cường độ, đáp ứng thuốc an thần), độ mỏ miệng, nuốt sặc/ngày.

Giữ an toàn cho bệnh nhân.

Lấy nhiệt độ.

Hạn chế các yếu tố gây co giật.

Săn sóc vết thương (nếu có).

Giai đoạn hồi phục còn cứng cơ, cứng khớp nền tập luyện và làm vật lý trị liệu.

Xét nghiệm.

Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn tuỳ tình trạng bệnh nhân.

Chăm sóc hệ thống cơ quan:

Nhiệt độ cao: Lau mát.

Vệ sinh răng miệng.

Vệ sinh mắt, tai, mũi.

Vệ sinh da: chăm sóc ngừa loét, giữ cho khăn trải giường khô và thẳng.

– Từ lúc cứng hàm đến co giật dưới 48 giờ là bệnh nặng.

Có cơn co giật tím tái hoặc ngừng thở phải hồi sức cấp cứu ngay.

Bảo đảm yên tĩnh, không tiếng động, ánh sáng dịu.

Thay băng hàng ngày.

Săn sóc mở khí quản hàng ngày và chuẩn bị rút mở khí quản khi bệnh nhân hết khó thở. Làm loãng đờm để dễ hút.

Bơm thuốc qua ống thông dạ dày.

Cần tập trung công tác chăm sóc.

Nuôi dưỡng:

+ Cho ăn lỏng và sệt để tránh sặc.

+ Nặng thì cho ăn qua thông dạ dày và truyền dung dịch ưu trương.

+ Dinh dưỡng đầy đủ và thích hợp

Để hạn chế cơn co giật.

Giáo dục sức khoẻ:

Bằng thái độ dịu dàng để bệnh nhân yên tâm điều trị.

Ngay từ khi bệnh nhân mới vào phải hướng dẫn nội quy khoa phòng cho bệnh nhân (nếu tỉnh) và thân nhân của bệnh nhân.

Vì tỷ lệ chết rất cao

Tiêm chủng DTC khi chưa có vết , thương cho trẻ em

+ Có vết thương : Chú ý các vết thương bẩn, giập nát nhiều .

+ SAT 1.500 – 3.000 đv/ tiêm bắp và tiêm vaccin.

Dự phòng uốn ván rốn:

+ Quản lý thai.

+ Đõ đẻ vô khuẩn.

+ Tiêm phòng uốn ván cho bà mẹ khi mang thai.

+ Sát khuẩn đầu cuông rôh bằng cồn iod.

Đánh giá

– Được đánh giá là chăm sóc tốt, nếu:

+ Từ ngày thứ 10 trở đi các cơn giật giảm dần.

+ Mạch, nhiệt độ trở lại bình thường.

+ Miệng há to dần.

+ Ngủ được.

+ Thời kỳ lại sức kéo dài hàng tháng.

Bệnh Uốn Ván Là Gì? Những Cách Phòng Ngừa Bệnh Uốn Ván

Chắc chắn đâu đó chúng ta đã nghe tới cái tên căn bệnh uốn ván rồi đi tiêm chủng uốn ván và đây là căn bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao. Tuy nhiên, rất ít người hiểu rõ về bệnh uốn ván là gì, cách phòng ngừa ra sao.

Bệnh uốn ván là loại bệnh cấp tính do cơ thể bị nhiễm ngoại độc tố tetanus exotoxin từ vi khuẩn uốn ván có tên là Clostridium tetani gây ra. Loại vi khuẩn này tiết ra chất độc gây tổn thương thần kinh, dẫn tới các cơ bắp bị tê liệt, cứng. Bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao, không nhanh chóng điều trị thì cơ hô hấp sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới nguy kịch và tử vong.

Do bệnh có tỷ lệ tử vong cao nên mọi người cần có những cách ngăn ngừa để hạn chế việc mắc phải bệnh uốn ván.

Cách ngăn ngừa bệnh uốn ván hiệu quả nhất chính là mọi người từ trẻ nhỏ tới người lớn đều cần chủ động tiêm vắc xin uốn ván sớm và đầy đủ. Đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh.

Ngày nay, vắc – xin uốn ván đã được bào chế dưới dạng phối kết hợp với các loại vắc – xin khác nên rất tiện lợi cho mẹ trong việc đưa bé đi tiêm ngừa, phòng bệnh.

Lịch tiêm chủng uốn ván hiện nay ở nước ta như sau:

Uốn ván sơ sinh: phụ nữ mang thai sẽ được gây miễn dịch cơ bản bằng 2 liều giải độc tố uốn ván – tetanus toxoid: TT, cách nhau tối thiểu 1 tháng, liều thứ 2 tiêm trước khi sinh 1 tháng. Những lần mang thai sau, trước khi sinh 1 tháng cần tiêm nhắc lại 1 liều TT.

Đối với trẻ em dưới 1 tuổi: trẻ em vào lúc 2, 3, 4 tháng tuổi sẽ được gây miễn dịch cơ bản với 3 liều vắc – xin phối hợp bạch hầu – ho gà – uốn ván (DPT).

Và để duy trì khả năng miễn dịch, phòng ngừa trước căn bệnh uốn ván thì cứ 10 năm lại tiêm nhắc lại một lần TT, bởi vắc – xin không tạo miễn dịch bền vững trọn đời.

Khi bị thương, có nguy cơ bị mắc bệnh cần tiền hành tiêm phòng ngừa luôn. Phụ thuộc vào lịch sử tiêm và độ tổn thương mà áp dụng lượng tiêm phù hợp:

Với những người đã được tiêm TT đầy đủ, vết thương nhẹ, không bị nhiễm bẩn, đồng thời, lần tiên TT cuối cùng cách đó hơn 10 năm thì cần tiêm nhắc lại 1 mũi. Đối với vết thương nặng, bị nhiễm bẩn, chưa được tiêm TT trong vòng 5 năm trước đó thì cần tiêm ngay 1 liều trong ngày bị thương.

Trường hợp người bị thương chưa được gây miễn dịch cơ bản đầy đủ thì cần tiêm 1 liều TT càng sớm càng tốt sau khi bị thương. Những vết thương nặng, bị nhiễm bẩn thì cần bổ sung thêm mũi tiêm globulin miễn dịch uốn ván (TIG).

Trong trường hợp không rõ tiền sử tiêm phòng, lại bị thương nặng thì cần tiêm TIG với liều thấp nhất là 250 IU.

Hi vọng thông qua bài viết này, bạn sẽ có được những kiến thức bổ ích chăm lo cho sức khỏe của bản thân và các thành viên gia đình mình