Biểu Hiện Của Bệnh Ung Thư Màng Phổi / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Zqnx.edu.vn

Triệu Chứng, Biểu Hiện Ung Thư Phổi

1.Triệu chứng lâm sàng

+ Khi khối u dưới 1cm đường kính thì chưa có dấu hiệu lâm sàng.

+ Nhiều trường hợp, thường do chụp Xquang phổi nghi ngờ mà chẩn đoán được.

+ Nói chung khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng ở phổi thì đã muộn (trong cơ thể đã có một số tế bào ung thư di căn ở một hay nhiều cơ quan khác). Những nhóm tế bào này thường tồn tại lặng lẽ trong một thời gian. Nơi khu trú của các nhóm tế bào di căn này là ở não, xương, gan,…hoặc ở ngay phế quản. Nhiều khi triệu chứng xuất hiện là biểu hiện của biến chứng. Vì vậy, khi chẩn đoán được là lúc bệnh đã tiến triển.

a. Triệu chứng hô hấp:

– Ho: Thường ho dai dẳng, ho là một phản ứng của niêm mạc phế quản đối với sự phát triển của khối u, ở phế quản càng lớn ho càng rõ rệt. Trong ung thư ngoại vi, thường ít ho và ho xuất hiện muộn hơn.

Giai đoạn đầu bệnh nhân thường ho khan về sau ho có thể có đờm nhầy và có thể có máu. Thường ho ra ít máu, máu có màu tím. Nguyên nhân ho ra máu là do loét niêm mạc phế quản hoặc do u xâm nhập vào động mạch phế quản nhỏ.

– Đau ngực: Khó thở ở thì thở vào hoặc thở ra do phế quản bị chít hẹp.

– Có thể có triệu chứng của viêm phổi cấp tái diễn nhiều lần ở một vùng phổi.

b. Triệu chứng toàn thân:

– Sút cân: Tình trạng chung suy sụp, mệt mỏi, khoảng 5-15% có hội chứng Pierre-Marie (ngón tay dùi trống) đau và biến dạng các xương bàn tay, bàn chân. Hội chứng này thường do ung thư tuyến phế quản sản xuất ra hormon sinh trưởng.

c. Triệu chứng di căn trong lồng ngực:

– Hay gặp ung thư biểu bì, ung thư này di căn sớm vào các hạch bạch huyết ở rốn phổi và trung thất gây nên hội chứng trung thất như hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên.

– Nếu khối u ở đỉnh phổi có thể xâm nhập vào thành ngực tại chỗ gây nên hội chứng Pancoast-Tobias. Hội chứng này gồm có:

– Hội chứng Horner: Đau nửa đầu, co đồng tử, sụp mi do liệt cơ Muller, hẹp khe mắt.

– Đau dây thần kinh mặt trong cánh tay.

– Đau các khớp cột sống từ C8-D1.

– Cung xương sườn 1 và 2 bị phá huỷ, có khi phá hủy cả xương đòn.

– Hội chứng cận u: Một số u có thể tiết ra những chất giống hormon và tác dụng hoàn toàn giống hormon. Thường hay gặp nhất là ung thư phổi. Đây là hội chứng nội tiết lạc chỗ.

– Hội chứng cường chức năng vỏ thượng thận: Có triệu chứng như trong bệnh Cushing nhưng không điển hình: Bệnh nhân thấy mệt mỏi, phù toàn thân, mỏi và yếu cơ, da mặt nhiều trứng cá, đái tháo đường. Có thể có sạm da do u vừa tiết ACTH và tiết MSH. Có trường hợp có huyết áp cao.

– Hội chứng tăng tiết ADH (hội chứng Shwartz – Batler): ADH tăng tái hấp thu nước tiểu do vậy giữ lại nước trong cơ thể, làm loãng độ natri huyết tương, giảm nồng độ clo.

– Hội chứng canxi máu: Do u tiết hormon cận giáp hoặc do tiêu xương vì di căn, lâm sàng bệnh nhân có khát, đái nhiều, giảm trương lực và yếu cơ, rung cơ, chán ăn, buồn nôn.

– Hội chứng Pierre-Marie: Do tăng nồng độ hormon sinh trưởng (GH) làm hình thành những xương mới, chủ yếu là ở các xương dài, xương tăng sinh và viêm xương dưới màng xương. Hậu quả là khớp sưng đau, ngón tay, ngón chân dùi trống.

2. Triệu chứng cận lâm sàng:

a. X-quang:

Rất có giá trị trong chẩn đoán. Có khi phải chụp 2 hay nhiều lần cách nhau khoảng 2 tuần để theo dõi sự phát triển của bóng mờ, bóng mờ tăng kích thước đều và nhanh (một dấu hiệu Xquang của ung thư).

b. Đối với ung thư trung tâm:

– Rốn phổi rộng hơn bình thường, bóng mờ không đều ở rốn phổi, bờ không đều đặn, bóng mờ phát triển đậm dần. Đặc biệt có các tia lan ra xung quanh như mặt trời mọc (hình ảnh đặc biệt trong ung thư phổi).

– Ở trường hợp lòng phế quản bị khối ung thư làm hẹp, thường có hình ảnh của rối loạn thông khí tại phần phổi tương ứng của phế quản đó:

– Phổi giảm sáng (do giảm thông khí).

– Phổi tăng sáng (do giãn phổi).

– Tăng thể tích, trung thất bị đẩy sang bên lành.

– Có thể xẹp phổi (Khối u to làm tắc lòng phế quản).

c. Ung thư ngoại vi:

– Bóng mờ đậm độ không đều nhau, chu vi không đồng đều, khi khối u càng lớn bóng mờ càng đậm. Do viêm mạnh nên quanh khối u, cấu trúc phổi đậm nét hơn bình thường. Thể tích khối u có thể bằng từ đồng xu đến nắm tay. Nếu khối u cách phổi một quãng có thể thấy những tia nối với rốn phổi, các tia này có thể là sự thâm nhiễm ung thư dọc theo phế quản hoặc dọc mạch máu, hoặc vào chuỗi bạch mạch.

d. Trên phim có thể thấy hình ảnh của các biến chứng:

– Hoại tử: Làm thành một hang trong lòng khối u, hang này có thành dày, bờ ngoài rõ đều, bờ trong khúc khuỷu hang không đều, có thể thấy những nụ nổi lên. Trong lỗ hổng có nhiều dịch tiết, có khi giống như một hang lao thông thường, bờ mỏng mặt trong và ngoài đều đặn, bên trong có dịch hoặc không.

Nhưng ở đây nhu mô phổi ở xung quanh thường xuyên lành, thử nhiều lần BK vẫn âm tính, điều trị đặc hiệu lao không có tiến bộ. Có thể gặp hình ảnh của của áp xe phổi, bóng mờ lớn, giữa hình sáng và có nước dịch ở thuỳ trên. Ở đây thuỳ bị co kéo có thể gây nên biến dạng của cơ hoành, trung thất thành ngực.

– Di căn vào hạch trung thất:

– Vào hạch phế quản – phổi làm rốn phổi rộng ra, nhiều khi bờ ngoài của rốn có nhiều hình vòng. – Vào hạch cạnh khí quản và hạch khí phế quản, làm bóng của phần trên trung thất rộng ra. – Vào ngã ba khí phế quản làm góc khí quản banh rộng ra (thực tế việc xác định trên Xquang rất khó khăn, chỉ ở những trường hợp nặng mới thấy được).

– Di căn vào thành ngực:

Gặp ở ung thư phổi ngoại vi, có thể di căn sang màng phổi, xương sườn, làm phá huỷ xương sườn hoặc gãy xương.

e. Chụp phế quản:

– Có giá trị đặc biệt (ung thư trung tâm), phế quản hẹp, thành phế quản nham nhở, phế quản có thể cắt cụt.

– Ít có giá trị (ung thư ngoại vi), một số trường hợp có thể thấy phế quản bị thu hẹp, chệch hoặc bị cắt cụt.

f. Soi phế quản:

+ Rất quan trọng để chẩn đoán ung thư phế quản. Có thể thấy một u dài hoặc một nụ mọc lên trên niêm mạc phế quản. U này màu trắng hoặc màu hồng bờ không đều, niêm mạc phế quản bị thâm nhiễm dày, u có thể loét và dễ chảy máu. + Từ khi có ống soi sợi mềm, có thể phát hiện được những ung thư ở phế quản cấp 5, cấp 6. + Trong ung thư phế quản, ngoại vi soi phế quản thường không thấy.

+ Cũng có khi hình ảnh chèn ép từ ngoài phế quản làm xẹp lòng phế quản. Qua soi phế quản, có thể làm sinh thiết chải phế quản hay sinh thiết hút phế quản, nếu khối u ở ngoại vi thì tìm tế bào ung thư. Cũng có thể lấy dịch tiết ở lòng phế quản để tìm tế bào ung thư.

g. Phản ứng Mantoux:

+ Âm tính.

+ Tốc độ máu lắng tăng cao.

h. Các biện pháp khác:

+ Sinh thiết hạch ngoại vi nếu có hạch trên xương đòn, hoặc làm sinh thiết hạch ở cơ bậc thang theo phương pháp Daniels.

+ Khi cần thiết có thể làm sinh thiết phổi, chọc kim qua thành ngực vào khối u, dưới hướng dẫn của Xquang.

+ Ở một số trường hợp nhất định, có thể mở lồng ngực thăm dò, làm sinh thiết tức thì để quyết định luôn phương pháp phẫu thuật ở phổi.

Theo Sức khỏe và Đời sống

Ho Ra Máu Có Phải Biểu Hiện Ung Thư Phổi

Các căn bệnh thường dẫn đến ho ra máu

Ho ra máu có biểu hiện là máu trong đờm, ho hoặc khạc ra từ phổi. Một trong những biểu hiện phổ biến của ung thư phổi là ho ra máu theo đường mũi hoặc miệng. Ước tính có khoảng 7-10% bệnh nhân ung thư phổi bị ho ra máu. Tuy nhiên, không chỉ ung thư phổi mới xuất hiện triệu chứng ho ra máu mà cần phân biệt ho ra máu từ phổi, phế quản hay máu đi qua miệng từ các vùng khác. Đôi khi, máu bắt nguồn từ mũi, cổ họng, khí quản, phế quản hoặc nôn kèm chảy máu. Nguyên nhân có thể từ việc xuất huyết dạ dày hay thực quản. Điều quan trọng là chẩn đoán tìm nguyên nhân để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Ho ra máu là một triệu chứng đáng báo động. Mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào lượng máu và thời gian ho ra máu. Để đánh giá tình trạng ho ra máu, các bác sĩ tìm cách xác định máu bắt nguồn từ bộ phận, cơ quan nào trong cơ thể.

Yếu tố dẫn đến máu trong đờm

Từ phổi (ho ra máu): Máu chảy ra từ phổi hoặc đường hô hấp thường sẽ xuất hiện nhiều bọt do trộn với không khí và chất nhầy trong phổi. Màu sắc màu gỉ sét hay đỏ tươi. Chất nhầy có thể chỉ chứa các vệt máu hoặc hoàn toàn trộn với máu.

Từ đường tiêu hóa (xuất huyết): Máu màu tối, kèm dấu vết của thức ăn. Bắt nguồn từ dạ dày hoặc các nơi khác trong đường tiêu hóa. Chảy máu từ miệng khác ho ra máu, thường xảy ra sau khi ăn hay đánh răng.

Nhiều bệnh lý cũng dẫn đến ho ra máu: Điều đó cho thấy ho ra máu không có nghĩa là bị ung thư phổi.

Nguyên nhân gây ho ra máu phổ biến là kích thích đường hô hấp do ho hoặc nhiễm trùng. Hầu hết các nguyên nhân ho ra máu đều nhẹ và không nghiêm trọng nhưng không nên bỏ qua.

Khi mắc bệnh về đường hô hấp hoặc ho mạnh, liên tục gây kích ứng đường thở, rách các mạch máu.

Nhiễm trùng đường hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản kèm dấu hiệu đau ngực khi thở hoặc ho, mệt mỏi, sốt, đổ mồ hôi và ớn lạnh.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

Giãn phế quản

Xơ nang do di truyền gây tổn hại nghiêm trọng đến phổi, thường gây khó thở và ho dai dẳng với chất nhầy đặc.

Nấm phổi: người bị suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, sau điều trị với thuốc ức chế miễn dịch.

Áp xe phổi gây ho, khạc đờm, mủ, ho máu, tức ngực, khó thở.

Phù phổi phổ biến ở những người bị bệnh tim, có chất lỏng trong phổi. Dấu hiệu có đờm màu hồng và nổi bọt, khó thở nghiêm trọng, đôi khi bị đau ngực.

Các cục máu đông trong phổi (thuyên tắc phổi) thường cục máu đông trong một động mạch của phổi. Thuyên tắc phổi kèm theo triệu chứng đau, sưng đỏ ở bắp chân do huyết khối tĩnh mạch sâu.

Lao phổi

Hít phải dị vật

Rối loạn đông máu do di truyền hoặc thuốc chống đông máu như warfarin, Rivaroxaban, dabigatran và apixaban.

Sau khi làm một số xét nghiệm như nội soi phế quản, đo phế dung, soi thanh quản, cắt amidan, phẫu thuật mũi, sinh thiết đường hô hấp trên gây tác dụng phụ ho ra máu.

Nguyên nhân nghiêm trọng có thể kể đến là ung thư phổi.

Các triệu chứng khác của ung thư phổi

Ho ra máu là một trong những triệu chứng phổ biến của ung thư phổi, nhưng không phải là dấu hiệu đặc trưng. Ung thư phổi còn có thêm những triệu chứng khác như:

Ho khan, ho dai dẳng, ho có đờm trắng điều trị kháng sinh không khỏi và dễ nhầm lẫn với bệnh viêm phế quản.

Khó thở: thường xảy ra khi ung thư có kích thước lớn chèn ép đường dẫn khí, bít tắc đường hô hấp

Đau tức ngực, đau hơn khi thở sâu, ho hoặc cười, khối u phổi gây đau tức trong lồng ngực, đau dai dẳng hoặc cố định ở thành ngực khi ung thư xâm lấn thành ngực.

Khàn tiếng: thường xảy ra sau khi bệnh nhân ho kéo dài

Bị phù mặt, cổ

Nuốt nghẹn khi ung thư chèn ép thực quản

U xâm lấn thành ngực gây đau, gãy xương sườn bệnh lý…

Khò khè

Giảm cân

Chán ăn, mệt mỏi

Nhiễm trùng đường hô hấp như viêm phế quản hoặc viêm phổi không khỏi hoặc tái phát liên tục

Một số người có nguy cơ cao mắc ung thư phổi không nên bỏ qua triệu chứng ho ra máu như:

Tuổi trên 40

Nghiện thuốc lá, thường xuyên tiếp xúc với môi trường có khói thuốc lá

Tiền sử gia đình có người bị ung thư phổi

Phơi nhiễm khí radon trong một thời gian dài

Làm việc trong môi trường độc hại, thường xuyên tiếp xúc với khói bụi, amiăng, asen, hóa chất độc hại,…

Sống trong môi trường ô nhiễm, nguồn nước không đảm bảo, có chứa nhiều kim loại nặng.

Đã từng xạ trị vùng ngực

Thăm khám khi bị ho ra máu

Khi bị ho ra máu dù chỉ là lần đầu, lượng nhỏ thì bạn cũng nên gặp bác sĩ. Bác sĩ sẽ thăm khám tổng quan và hỏi thăm một số câu hỏi định hướng sẽ chỉ định một số xét nghiệm như:

Xét nghiệm công thức máu

Chụp X-quang ngực để xác định khối u, dấu hiệu nhiễm trùng

Chụp CT ngực

Nội soi phế quản nhờ sử dụng một ống nội khí quản đưa qua đường miệng hay mũi giúp bác sĩ xác định vị trí chảy máu và kiểm tra dị vật

Xét nghiệm đờm

Sinh thiết phổi

Nếu nghi ngờ một nguyên nhân nào đó, bác sĩ chỉ định tiến hành thêm xét nghiệm khác để đưa ra kết luận cuối cùng.

Kiểm soát triệu chứng ho ra máu do ung thư phổi

Mục tiêu là cầm máu, ngăn hít vào phổi và điều trị nguyên nhân. Nguyên nhân là nhiễm trùng bác sĩ kê đơn thuốc chữa bệnh cụ thể.

Chăm sóc giảm nhẹ nhằm giảm bớt triệu chứng, nâng cao thể chất và tinh thần.

Ho ra máu nặng, lượng đờm lẫn máu nhiều cần lưu ý bảo vệ đường thở khỏi bị tắc nghẽn.

Nếu mắc ung thư phổi cân nhắc tiến hành phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Chống chỉ định phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn không phẫu thuật được hoặc bệnh nhân có chức năng hô hấp trước khi ho ra máu quá kém không cho phép cắt phổi.

Dấu hiệu ho ra máu nghiêm trọng cần lập tức gặp bác sĩ

Bắt đầu ho ra máu sau khi ngã hoặc chấn thương ở ngực

Ho nhiều hơn 1 thìa cà phê máu

Cũng có máu trong nước tiểu hoặc phân

Kèm đau ngực, chóng mặt, sốt, khó thở, nhức đầu

Ho ra máu là triệu chứng không nên bỏ qua. Chẩn đoán ra nguyên nhân có thể nhẹ như kích thích đường thở do ho hoặc nghiêm trọng như ung thư phổi, cục máu đông trong phổi. Ho ra máu chỉ chiếm khoảng 7% trường hợp mắc ung thư phổi nhưng cần loại trừ nguy cơ này ở người lớn. Nhất là những người thuộc nhóm nguy cơ cao. Như các bệnh ung thư khác, chẩn đoán phát hiện sớm thì khả năng chữa khỏi càng cao.

7 Biểu Hiện Của Ung Thư Phổi Giai Đoạn Đầu Thường Thấy Chớ Bỏ Qua

Bệnh ung thư phổi khó phát hiện sớm, kết quả điều trị cũng rất thấp tuy nhiên cũng có thể nhận biết bằng các dấu hiệu như sau ho trong một thời gian dài và không tự khỏi, đau ngực, vùng ngực to lên bất thường..

Bệnh ung thư phổi là gì?

Ung thư phổi là ung thư hay gặp nhất trên toàn cầu, khó phát hiện sớm, kết quả điều trị cũng rất thấp, gây tử vong nhiều nhất trong các loại ung thư. Ở Việt Nam, ung thư phổi đứng hàng thứ hai sau ung thư gan ở cả hai giới nam và nữ. Tuy nhiên ung thư phổi có thể tránh dễ dàng và chủ động bằng cách không hút thuốc và tránh xa khói thuốc lá.

Ung thư phổi được cho là bắt đầu tại các vị trí tiền ung thư trong phổi. Những thay đổi đầu tiên trong gene (DNA) của các tế bào phổi có thể làm các tế bào phát triển nhanh hơn. Tại thời điểm này các thay đổi không tạo thành khối u, không thể phát hiện được trên Xquang và không gây ra triệu chứng.

Theo thời gian, các tế bào bất thường có thể có được những thay đổi gen tiếp tục để tiến đến ung thư thực sự. Các mạch máu xung quanh vị trí ung thư sinh sôi mạnh mẽ để nuôi dưỡng các tế bào ung thư, sau đó phát triển và hình thành một khối u đủ lớn có thể nhìn thấy trên các xét nghiệm hình ảnh như chụp Xquang.

Có 2 loại chính của ung thư phổi :

Ung thư phổi tế bào nhỏ: Chiếm khoảng 10%, diễn tiến ác hơn, khi phát hiện đã cho xâm lấn và di căn xa.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ: Chiếm khoảng 90%, ít ác hơn, phát triển qua từng giai đoạn.

Nguyên nhân của ung thư phổi

Radon là một loại khí phóng xạ tự nhiên, kết quả từ sự phân hủy của uranium trong đất và đá. Radon không thể nhìn thấy, nếm hoặc ngửi được. Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, radon là nguyên nhân thứ hai dẫn đến ung thư phổi và là nguyên nhân hàng đầu của những người không hút thuốc.

Amiăng là một loại khoáng chất tự nhiên có tác dụng chống cháy và cách nhiệt, được sử dụng trong việc xây dựng và vật liệu xây dựng trong một số quy trình sản xuất. Khi amiăng được hít vào, có thể gây kích thích phổi và cuối cùng có thể gây ra bệnh phổi. Những người hút thuốc và tiếp xúc với amiăng có nguy cơ cao phát triển bệnh ung thư phổi.

Ô nhiễm không khí ngoài trời ước tính chiếm khoảng 1-2% ung thư phổi.

Khoảng 8% ung thư phổi là do các yếu tố di truyền. Người có người thân trong gia đình bị ung thư phổi, nguy cơ ung thư phổi tăng lên 2,4 lần. Điều này có thể do sự kết hợp của các gen.

Triệu chứng bệnh ung thư phổi sớm nhất

Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư phổi bắt đầu lặng lẽ, thường là không có triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo trong giai đoạn đầu. Khi bệnh trở nên nặng hơn, các triệu chứng có thể xuất hiện bao gồm:

1/ Ho khan triệu chứng ung thư phổi

Ho khan là dấu hiệu đầu tiên để phát hiện ung thư phổi . Người bệnh thường ho trong một thời gian dài và không tự khỏi. Từ ho khan, bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn đầu có thể ho ra đờm,thậm chí là ra máu, nhất là vào lúc sáng sớm. Khi bệnh đã phát triển đến một mức nào đó, người bệnh thường xuyên bị viêm phế quản, viêm phổi dẫn đến suy nhược cơ thể.

2/ Đau ngực

Khi bị ung thư phổi, người bệnh có thể thấy đau tức ở vùng phổi và ngực. Đặc biệt là việc bị đau dai dẳng trong ngực mà không hết sau một thời gian dài. Nếu có triệu chứng này, bạn cần phải cảnh giác bởi đó có thể là một biểu hiện của bệnh ung thư phổi mà bạn không biết đó.

3/ Bất thường ở các mô vú

Dấu hiệu của bệnh ung thư phổi này thường gặp ở nam giới nhiều hơn. Đó là tình trạng vùng ngực to lên bất thường do các tế bào bệnh ung thư kích thích sự tiết nội tiết tố một cách bất thường. Ngoài ra, khi xuất hiện các dấu hiệu sau các bạn cũng nên cảnh giác:

Điều trị ung thư phổi thế nào?

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ y dược học, thời gian sống của bệnh nhân ung thư phổi đang được kéo dài hơn so với trước. Thống kê mới nhất của Viện Ung thư Quốc gia của Mỹ cho thấy từ năm 2004 đến năm 2010, những người được chẩn đoán ung thư phổi sống sau 5 năm tăng từ 4% lên 54%, tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh.

Nếu bệnh nhân mắc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được phát hiện trước khi nó lan sang các bộ phận khác của cơ thể hoặc mới chỉ xuất hiện ở một bên phổi, phẫu thuật là biện pháp tốt nhất. Các bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ phần có khối u. Một số bệnh nhân được xạ trị hoặc hóa trị sau phẫu thuật để diệt các tế bào ung thư còn lại. Đối với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ phẫu thuật dường như không có giá trị vì tại thời điểm chẩn đoán, ung thư có thể đã lan sang các cơ quan khác của cơ thể Khi ung thư phổi di căn

Khi ung thư phổi đã di căn các bác sĩ vẫn có thể chữa trị để giúp bệnh nhân kéo dài cuộc sống và có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Bức xạ hoặc hóa trị liệu có thể thu nhỏ khối u và điều trị các triệu chứng, như đau xương hoặc khó thở. Hóa trị biện pháp duy nhất và thường xuyên được áp dụng ở các bệnh nhân bị bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ.

tu khoa

cach dieu tri ung thu phoi

ung thu phoi co trieu chung gi

ung thư phổi giai đoạn 4 sống được bao lâu

ung thu phoi song duoc bao nhieu nam

benh ung thu phoi kieng an nhung gi

bệnh ung thư phổi sống được bao lâu

ung thư phổi di căn sống được bao lâu

Những Biểu Hiện Và Triệu Chứng Của Bệnh Ung Thư Vú

Theo thống kê, ung thư vú chiếm tỷ lệ từ 7-10% trong tổng số các loại ung thư ở nữ. Ung thư vú cũng có tỷ lệ di truyền nhất định, thường gặp ở độ tuổi 40 đến 60 tuổi. Ung thư vú là một trong những loại ung thư thường gặp nhất ở nữ giới. Những phụ nữ ở độ tuổi tiền mãn kinh hoặc mới mãn kinh tỷ lệ phát bệnh cao hơn. Hiện nay việc trị ung thư vú cũng có nhiều tiến triển đáng mừng.

Triệu chứng, dấu hiệu của ung thư vú rất đa dạng, nhưng hiện nay triệu chứng ung thư vú chủ yếu bao gồm 6 điểm sau:

1. Khối u ở vú

Đa số các bệnh ở vú đều có thể hình thành khối u trong vú. Vì thế, khi phát hiện vú có khối u, bệnh nhân không nên lo sợ, mà phải kịp thời đến bệnh viện thăm khám, nhờ bác sĩ kiểm tra nguyên nhân gây khối u ở vú. Tăng sinh tiểu thùy tuyến vú, ung thư vú, u xơ tuyến vú là các nguyên nhân gây khối u ở vú thường gặp nhất, những nguyên nhân khác tương đối ít gặp có thể là khối u do viêm tuyến vú, hoặc u mỡ tuyến vú.

Dấu hiệu ung thư vú khi có khối u:

– Do ung thư vú hình thành, phát triển to ra và xâm lấn, ranh giới không rõ, bề mặt lồi lõm không bằng, mật độ cứng, độ di động kém, không đau.

– Khối u lành tính ở vú, như u xơ vú hình thành có ranh giới rõ, bề mặt trơn láng, mật độ dài, di động rõ, cảm giác có màng bao.

2. Chảy dịch ở đầu vú

Dấu hiệu ung thư vú do chảy dịch ở đầu vú là u nhú trong ống tuyến sữa và chứng viêm ống tuyến sữa, không đến 5% nguyên nhân chảy dịch đàu vú là do ung thư vú, phầnl ớn bệnh nhân thông qua kiểm tra mà phát hiện khối u trong vú. Chảy dịch đầu vú do ung thư vú có thể là máu, dịch nhầy hoặc dạng nước, làm kính phết dịch chảy này và nội soi ống tuyến sữa là phương pháp chủ yếu để chẩn đoán chính xác.

3. Thay đổi da

Thay đổi da do ung thư vú có rất nhiều biểu hiện. Triệu chứng ung thư vú thường gặp nhất là da bị dính, có dạng như “lúm đồng tiền” nên còn gọi là chứng lúm đồng tiền. Dính liền da là một dấu hiệu đặc trưng trên lâm sàng quan trọng để chẩn đoán ung thư vú. Ngoài ra, khối u phát triển dạng khối hoặc dài và lớn, còn có thể xuất hiện nổi tĩnh mạch dưới da. Ung thư vú thể viêm có thể xuất hiện trên bề mặt vú, da đỏ lên và nóng tại chỗ, nếu hạch tế bào ung thư gây tắc nghẽn dẫn lưu tuyến vú, còn có thể xuất hiện phù nề da, như dạng vỏ quýt.

4. Thay đổi hình dạng đầu vú

Khi khối ung thư vú xâm lấn đến đầu vú và vùng dưới bầu vú, mô xơ tuyến vú và hệ thống ống tuyến có thể vì khối u xâm lấn và bị thu ngắn, kéo đầu vú nên xuất hiện tình trạng lệch đầu vú, đầu vú teo và lõm xuống, hai đầu vú xuấth iện hiện tượng không cần đối. Bệnh nhân cần phải hiểu là bệnh lành tính nào đó ở vú cũng có thể khiến đầu vú teo và lõm xuống.

Dấu hiệu ung thư vú khi phát triển dạng chàm có thể là xuất hiện lở loét mảng lớn ở đầu vú, vùng bầu vú, cả đầu vú cũng có thể bị khối u xâm lấn và mất đi.

5. Hạch nách sưng to

Phần lớn hạch bạch huyết tuyến vú dẫn lưu đến nách, làm cho hạch nách sưng to. Ở một số ít bệnh nhân, bác sĩ còn có thể lấy hạch nách sưng to làm triệu chứng ung thư vú đầu tiên để chẩn đoán . Vì thế khi phát hiện khối u dưới nách không rõ nguyên nhân, bệnh nhân phải kịp thời đến bác sĩ thăm khám.

6. Biểu hiện ung thư vú thời kỳ cuối

Ung thư vú thời kỳ cuối có thể phát sinh di căn hạch trên xương đòn (còn gọi là hạch thượng đòn), hạch nách hai bên, hạch cơ hoành, cùng với di căn đến phổi, gan, xương, tuyến thượng thận, não. Ung thư tại chỗ có thể xâm lấn đến da, khiến da bị lở loét, chảy nước, xâm lấn đến cơ ngực lớn, cơ ngực nhỏ, cơ gian sườn và xương sườn gây ra triệu chứng tương ứng.

Khi có một trong các dấu hiệu ung thư vú như trên thì người bệnh cần nhanh chóng đi tới bệnh viện hoặc các cơ sở y tế chuyên khoa uy tín để khám và được chẩn đoán bệnh sớm, có phương pháp điều trị ung thư vú hiệu quả và phù hợp.