Bệnh Béo Phì Nguy Hiểm Như Thế Nào / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Zqnx.edu.vn

Béo Phì Là Gì, Nguy Hiểm Như Thế Nào?

Béo phì là gì, nguy hiểm như thế nào?

Hiện nay, tình trạng béo phì đang ngày một gia tăng, nó thật sự đang trở thành nỗi quan ngại của ngành y học. Đặc biệt, tuổi của người bị thừa cân béo phì lại ngày càng trẻ hóa.

Góc chuyên gia * 21/06/2019

Bạn có biết, béo phì là một “chất xúc tác” gây ra hàng loạt những căn bệnh nguy hiểm và khó điều trị. Béo phì làm gián đoạn quá trình trao đổi chất, hormone trong cơ thể nên người béo phì có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người bình thường.

Béo phì đang ngày càng gia tăng (Nguồn: Internet)

Béo phì là tình trạng chất béo lưu trữ trong cơ thể vượt quá mức cho phép. Béo phì không chỉ ảnh hưởng đến vóc dáng của người bệnh mà còn làm gia tăng nguy cơ bệnh tật.

Nhiều người thường cho rằng béo phì và thừa cân là giống nhau, tuy nhiên béo phì và thừa cân là 2 khái niệm khác nhau. Thừa cân là tình trạng cân nặng tăng quá nhiều so với chiều cao, không chỉ do dư thừa chất béo mà còn có thể do nhiều cơ bắp hoặc nước trong cơ thể. Cả 2 tình trạng này đều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

Khi nào được gọi là béo phì?

Người có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao hơn 25 là thừa cân, nếu ở mức 30 hoặc cao hơn được gọi là béo phì và ở mức 40 hoặc cao hơn là béo phì nghiêm trọng.

Công thức tính BMI là: BMI = Cân nặng (kg)/ {chiều cao x 2} (m)

Cùng với việc làm mất đi vẻ thẩm mỹ, béo phì còn làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tật cao hơn người bình thường.

Các bệnh lý mà người béo phì có nguy cơ mắc phải gồm:

Béo phì làm tiềm ẩn nhiều bệnh lý nguy hiểm (Nguồn: Internet)

Người béo phì dễ bị thoái hóa khớp, loãng xương, đau nhức triền miên do trọng lượng cơ thể gây áp lực lên xương khớp. Khớp gối, cột sống tổn thương sớm trước khi về già. Những người béo phì cũng dễ mắc bệnh gout.

Bệnh béo phì thường đi kèm với bệnh rối loạn lipid máu hay thường gọi là mỡ trong máu hoặc cholesterol cao. Khi cholesterol cao sẽ gây xơ hóa lòng mạch máu, tăng huyết áp, đột quỵ, nhồi máu cơ tim.

Hơn nữa, ở những người béo phì, tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu đi nuôi cơ thể và lâu dài sẽ gây quá tải cho tim, dẫn đến nhiều bệnh về tim mạch.

Do béo phì làm cho lượng mỡ dư bám vào các quai ruột gây táo bón, dễ sinh ra bệnh trĩ. Sự ứ đọng phân và các chất thải độc hại sinh ra trong quá trình chuyển hóa dễ sinh bệnh ung thư đại tràng. Lượng mỡ dư tích tụ ở gan gây bệnh gan nhiễm mỡ nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến bệnh xơ gan…

Bệnh béo phì ở trẻ em thường khiến trẻ có chỉ số thông minh thấp hơn những trẻ có cân nặng bình thường. Người lớn bị béo phì có nguy cơ bị Alzheimer cao hơn so với người bình thường.

Hoạt động của cơ hoành, khí phế quản của người béo phì thường hạn chế do “mỡ bám”, người béo phì thường bị rối loạn nhịp thở, đặc biệt là dễ ngáy, ngừng thở khi ngủ. Béo phì càng nặng thì tình trạng rối loạn nhịp thở càng nhiều.

Phụ nữ béo phì thường bị rối loạn kinh nguyệt, buồng trứng đa nang, khó có thai, nguy cơ vô sinh cao. Nếu có thai nguy cơ đẻ khó, con dễ bị rối loạn chuyển hóa. Nam giới béo phì thường yếu sinh lý, nguy cơ vô sinh.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì

Một số yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì:

Trẻ em cũng dễ bị béo phì (Nguồn: Internet)

Bất cứ ai cũng có thể bị béo phì nếu không có một chế độ ăn và tập luyện phù hợp. Ngày nay, bệnh béo phì ở trẻ em cũng là một vấn đề đáng báo động do chế độ ăn uống không phù hợp.

Điều trị béo phì bằng cách nào?

Chữa béo phì cần có chế độ ăn và tập luyện hợp lý (Nguồn: Internet)

Chế độ ăn kiêng, tập thể dục thể thao và phẫu thuật có thể được áp dụng để điều trị bệnh béo phì. Chuyên gia dinh dưỡng và các bác sĩ có thể giúp bạn lên kế hoạch với một chế độ ăn ít chất béo, ít calo phù hợp với sức khỏe. Thực đơn giảm cân cần tuyệt đối tuân thủ chỉ định của bác sĩ, trên cơ sở tăng cường chất xơ, uống nhiều nước… Ăn ngủ điều độ giúp tăng cường hoạt động hệ tiêu hóa, giúp cơ thể khỏe mạnh hơn, đồng thời hạn chế được việc cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu của cơ thể.

Tập thể dục là một cách hữu hiệu để điều chỉnh cân nặng an toàn. Một vài loại thuốc (thuốc kích thích) có thể làm giảm cân nhưng có thể gây ra tác dụng phụ, do đó bạn chỉ nên sử dụng thuốc dưới sự chỉ định và giám sát trực tiếp của bác sĩ.

Một số trường hợp béo phì nặng, không đáp ứng với các biện pháp trên, phẫu thuật làm hẹp dạ dày sẽ được đặt ra.

Điều trị béo phì là cách để bạn tự tin hơn, đồng thời phòng ngừa được nhiều bệnh lý nguy hiểm. Do đó, nếu chẳng may trọng lượng cơ thể đang ở ngưỡng “quá cân”, hãy kiên trì áp dụng các phương pháp giảm cân ngay từ bây giờ.

Nguồn: Sưu tầm

Béo Phì Có Ảnh Hưởng Như Thế Nào Đến Sức Khỏe

Béo phì là điều kiện sức khỏe mà trong đó lượng chất béo trong cơ thể tích lũy quá nhiều đến mức mà nó gây những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Nó được xác định bằng chỉ số BMI ( body mass index) và hơn nữa là được đánh giá qua sự phân bố mỡ thông qua tỉ lệ eo-hông của cơ thể.

Dựa trên chỉ số BMI

Đánh giá tình trạng béo phì qua chỉ số BMI:

BMI là chỉ số được các bác sỹ và chuyên gia sức khỏe sử dụng để xác định tình trạng cơ thể của một người nào đó có bị béo phì, thừa cân hay không. Thông thường người ta thường dùng công thức này để đo mức độ béo phì.

Chỉ BMI cơ thể của một người tính bằng cân nặng của người đó (kg) chia cho bình phương chiều cao (m). Có thể tính theo công thức định nghĩa hoặc cho theo những bảng tiêu chuẩn.

Dựa trên tỉ lệ eo/mông của cơ thể

Tỷ số vòng eo trên vòng mông hay tỷ số eo trên mông, là giá trị của phép chia giữa số đo chu vi vòng eo và số đo chu vi vòng mông (tại vị trí lớn nhất có thể của vòng mông)

Ngoài chỉ số BMI thì biết được sự phân bố lượng mỡ dư thừa trong cơ thể cũng rất quan trọng đối với tầm soát các nguy cơ về bệnh tiểu đường, tim mạch và cao huyết áp.

Ở người béo phì mỡ thường được tích tụ ở vòng eo. Người ta thường nói đùa là người có hình “quả trứng” hay là béo kiểu “trung tâm”, béo kiểu “phần trên”. Nếu mỡ chứa ở nhiều quanh mông, háng và đùi thường gọi là béo hình “quả lê” hay còn gọi là béo kiểu “phần dưới”, kiểu béo này ít trong tình trạng được coi là béo phì,

Do vậy phương pháp xác định tỷ lệ vòng eo / vòng mông cũng là một trong những phương pháp nhận biết căn bệnh béo phì.

Những tác hại khôn lường đến sức khỏe mà béo phì gây ra

Bệnh tim mạch

Người béo phì thường đi kèm với bệnh rối loạn lipid máu. Hay thường gọi là bệnh mỡ trong máu hoặc cholesterol cao. Khi cholesterol cao gây xơ hóa lòng mạch máu, tăng huyết áp, đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Mặt khác, ở người béo phì tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu đi nuôi cơ thể lâu dài gây quá tải cho tim. Do đó, ở người béo phì dễ mắc các bệnh về tim mạch. Hiện tại, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đang đứng đầu trong các nguyên nhân. Trong đó rất nhiều ca là biến chứng của bệnh béo phì.

Cao huyết áp

Nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp ở người béo phì cao hơn gấp 12 lần so với người có cân nặng bình thường. Khi cơ thể tăng cân, khối lượng tăng thì thể tích cũng tăng. Máu vận chuyển ì ạch hơn buộc mạch máu phải dùng nhiều áp lực co bóp đàn hồi hơn để đưa máu đi khắp mọi tế bào. Ngoài ra, khi cơ thể khó đẩy máu chạy đến các tế bào, nó sẽ sinh ra hóc-môn adrenalin. Đây là loại hóc-môn bình thường được sinh ra khi hệ thống thần kinh trung ương bị kích thích. Khiến tăng nhịp tim, huyết áp để máu được lưu thông.

Những người béo phì có nồng độ axit uric trong máu cao hơn người bình thường. Do họ bị rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể bởi chế độ ăn uống dư thừa dinh dưỡng. Sự kết hợp này sẽ làm tăng mỡ máu và axit uric trong máu đồng thời làm suy giảm khả năng đào thải axit uric. Nồng độ axit uric cao khiến tinh thể muối urat kết đọng trong các khớp xương gây nên bệnh gout. Các triệu chứng điển hình là đau nhức, sưng đỏ và hạn chế vận động.

Ở người béo phì thì cơ chế vận chuyển, chuyển hóa đường có nhiều hạn chế. Số lượng insulin ở màng tế bào suy giảm. Chức năng từng thụ thể đơn lẻ bị suy yếu, chức năng truyền tín hiệu vào bên trong tế bào của thụ thể bị tổn thương,… Điều này khiến chất đề kháng insulin được sản sinh, đường trong máu khó được chuyển vào tế bào. Đây chính là hiện tượng đề kháng insulin.

Thời kỳ mới phát béo, chức năng sản xuất insulin vẫn bình thường. Tuy nhiên, theo thời gian sự đề kháng insulin tăng lên làm giảm hoạt lực của insulin. Để cải thiện tình trạng này, tuyến tụy phải họa động liên tục dẫn đến chức năng sản sinh insulin giảm dần và không đủ để duy trì chuyển hóa đường trong máu. Đó là nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường.

Trào ngược axit

Sự tăng cường insulin máu hoặc kháng insulin ở người béo phì có thể thúc đẩy sự phát triển của ung thư đại tràng, thận, tuyến tiền liệt và ung thư nội mạc tử cung

Phòng và điều trị bệnh béo phì như thế nào?

Mục đích của điều trị thừa cân và béo phì là giảm trọng lượng ở giai đoạn đầu. Sau đó duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ hợp lý ở giai đoạn sau bằng các biện pháp sau:

Chế độ ăn giảm calo

Lượng calo cung cấp giảm từ 20 – 25 % so với tuổi và giới. Loại trừ các loại đường hấp thu nhanh và mỡ bão hòa hoặc tương đương với 1.600 – 1.800 kcal/ngày. Mục đích là giảm cân từ từ, không quá nhanh, khoảng 2-3 kg/tháng.

Tăng cường hoạt động thể lực

Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, thuận lợi cho lưu thông mạch máu. Vừa giúp cho dinh dưỡng khớp và sụn khớp tốt hơn. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên các khớp xương trong khi vận động. Nên tập luyện tối thiểu 30 phút/ngày. Những hoạt động thể thao như bơi lội, đi bộ, thể dục nhịp điệu… Và các môn thể thao tập thể như bóng đá, bóng chuyền… nên được khuyến khích.

Phẫu thuật phối hợp điều trị bệnh lý

Một số trường hợp nặng, không đáp ứng với các biện pháp trên, phẫu thuật làm hẹp dạ dày sẽ được đặt ra.

Phối hợp với điều trị các bệnh lý đi kèm với béo phì như thuốc chống thoái hóa khớp, thuốc giảm đau, thuốc hạ huyết áp, thuốc hạ mỡ máu…

Gel săn chắc quế Olic hỗ trợ phòng và điều trị bệnh béo phì hiệu quả. Giảm ngay 3 đến 5 cm cho vùng mỡ thừa sau 2 đến 3 tuần sử dụng. Để đặt hàng chính hãng, hãy truy cập website chính thức của Công ty Olic. Hoặc gọi hotline: 0901.736.668

Bệnh Thalassemia Nguy Hiểm Như Thế Nào?

Bệnh Thalassemia (bệnh tan máu bẩm sinh) là một trong bệnh có các bất thường di truyền phổ biến nhất trên thế giới. Hiện có 7% người dân trên toàn cầu mang gen bệnh tan máu bẩm sinh; 1,1% cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh hoặc mang gen bệnh. Bệnh phân bố khắp toàn cầu, tỷ lệ cao ở vùng Địa Trung Hải, Trung Đông, châu Á – Thái Bình Dương trong đó Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ mắc bệnh và mang gen bệnh cao.

Tại Việt Nam, tỷ lệ mang gen bệnh ở người Kinh vào khoảng 2 – 4%, các dân tộc thiểu số sống ở miền núi, tỷ lệ này rất cao: Khoảng 22% đối với dân tộc Mường, và trên 40% ở dân tộc Êđê , Tày,Thái, Stiêng…

Phải khẳng định Thalassemia đây là căn bệnh cực kỳ nguy hiểm! Vì sao có thể khẳng định như vậy? Bởi vì nó không chỉ gây tổn hại sức khỏe người bệnh, gây tàn phá cấu trúc trong cơ thể, ảnh hưởng đến giống nòi, đe dọa đến tính mạng mà nó còn tạo thêm gánh nặng cho gia đình, xã hội.

Tùy vào mức độ nặng của Thalassemia nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, người bệnh sẽ phải đối mặt với những biến chứng vô cùng nặng nề như:

Ứ đọng sắt: Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do Thalassemia thể nặng. Khi các tế bào hồng cầu chứa hemoglobin bất thường đã bị phá hủy khiến cho một khối lượng chất sắt rất lớn bị tích tụ bên trong cơ thể gây suy tạng và xơ hóa.

Dị tật xương: Những bệnh nhân mắc Thalassemia thể nặng bị phá hủy tế bào hồng cầu, dẫn đến hiện tượng tăng sinh hồng cầu trong tủy xương. Sự gia tăng một cách bất thường này khiến cho xương có nguy cơ biến dạng, xơ cứng, xốp và rất dễ gãy.

Nhiễm trùng: người bệnh Thalassemia cũng bị đe dọa tính mạng bởi nguy cơ nhiễm trùng cao, nhất là ở những bệnh nhân đã từng tiến hành phẫu thuật lá lách.

Các bệnh lý về tim mạch: Người mắc bệnh Thalassemia thường rơi vào trạng thái suy tim, tim xung huyết, loạn nhịp tim và có thể tử vong nếu như không được điều trị kịp thời.

Theo báo cáo của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình, Bộ Y tế, Việt Nam hiện có khoảng 13 triệu người, tương đương 13% dân số mang gen bệnh tan máu bẩm sinh. Trong đó, đồng bào dân tộc miền núi chiếm tỷ lệ khá cao, từ 20- 40%. Mỗi năm có khoảng hơn 8.000 trẻ em sinh ra bị bệnh tan máu bẩm sinh, khoảng hơn 2.000 trẻ mắc bệnh nặng.

Thông tin từ Bộ Y tế cho biết. Chi phí trung bình để điều trị cho một bệnh nhân mắc tan máu bẩm sinh thể nặng từ khi sinh ra tới năm 30 tuổi hết khoảng 3 tỷ đồng. Mỗi năm, cả nước cần có trên 2.000 tỷ đồng để cho tất cả bệnh nhân có thể được điều trị tối thiểu và cần khoảng 500.000 đơn vị máu an toàn để truyền máu cho người bệnh. Tan máu bẩm sinh đang là vấn đề gây áp lực lên ngân hàng máu cũng như tạo ra gánh nặng trầm trọng về chi phí xã hội.

Do tính chất nghiêm trọng trên mà bệnh Thalassemia được chúng tôi Nguyễn Anh Trí – Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, Chủ tịch hội Tan máu bẩm sinh Việt Nam ví như ‘quả bom nguyên tử” và ‘quả bom nguyên tử Thalassemia đã nổ ở Việt Nam, nhưng có điều rất nguy hiểm là chúng ta không nghe được tiếng nổ vì đây là một bệnh bẩm sinh di truyền, gen bệnh len lỏi trong cơ thể của người bệnh và truyền từ người này qua người khác, thế hệ này qua thế hệ khác, làm tổn hại tới giống nòi của dân tộc chúng ta”.

Việt Nam là một trong những nước đã có nỗ lực lớn trong điều trị bệnh tan máu bẩm sinh, song việc điều trị mới chỉ dừng lại ở vấn đề cải thiện tốt cuộc sống của người bệnh, trong khi đó, chất lượng sống của các bệnh nhân bị tan máu bẩm sinh còn rất thấp, số lượng tử vong lớn. Qua báo cáo, từ năm 2001 đến nay, có tới 20% bệnh nhân tử vong ở lứa tuổi từ 6 – 7, nhiều bệnh nhân tử vong ở độ tuổi 16 – 17, hầu hết những người mắc bệnh nặng đều không có cơ hội xây dựng gia đình.

Hơn 20.000 người Việt phải sống cả đời với bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh)

Thalassemia (còn được gọi là bệnh tan máu bẩm sinh) là một rối loạn về máu mà cơ thể tạo ra một dạng Hemoglobin bất thường. Một loại phân tử protein trong hồng cầu vận chuyển oxy. Rối loạn này là kết quả của sự phá hủy quá mức các tế bào hồng cầu, dẫn đến thiếu máu, một tình trạng trong đó cơ thể bạn không có đủ tế bào hồng cầu khỏe mạnh bình thường.

Thalassemia là bệnh di truyền. Có nghĩa là ít nhất một trong bố hoặc mẹ phải là người mang bệnh. Do một đột biến di truyền hoặc một tình trạng xóa bỏ một số đoạn gen là nguyên nhân quan trọng.

Hai dạng bệnh Thalassemia chính là Alpha-Thalassemia và Beta-Thalassemia. Trong Alpha-thalassemia, ít nhất một trong số các gen Alpha Globin có đột biến hoặc bất thường. Trong bệnh Beta-Thalassemia, gen Beta Globin bị ảnh hưởng.

Tùy vào mức độ nghiêm trọng của bệnh mà các triệu chứng sẽ biểu hiện khác nhau. Nhiều trẻ sẽ xuất hiện dấu hiệu Thalassemia ngay sau khi sinh nhưng cũng có trường hợp sau 1-2 năm các dấu hiệu mới khởi phát. Người bệnh Thalassemia có thể bị thiếu máu nhẹ. Do thiếu máu nhẹ nên người bệnh cảm thấy mệt mỏi. Rất dễ bị nhầm lẫn thiếu máu nhẹ do Thalassemia với tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Ngoài ra, các triệu chứng có thể đi kèm gồm:

Triệu chứng bệnh Thalassemia được chia ra theo 2 dạng:

Dạng Alpha-Thalassemia:

Nếu được truyền máu đầy đủ, trẻ có thể phát triển bình thường cho đến 10 tuổi. Sau đó, có thể xuất hiện các biến chứng như:

Biến dạng xương ở mặt, mũi tẹt, răng vẩu; loãng xương, dễ gãy xương.

Da sạm, củng mạc mắt vàng.

Dậy thì muộn ở nữ.

Chậm phát triển thể chất

Biến chứng tim mạch: suy tim, rối loạn nhịp tim,…

Thalassemia (Tan máu bẩm sinh) gây ra do sự thiếu hụt tổng hợp một chuỗi Globin trong huyết sắc tố của hồng cầu. Thành phần chính của hồng cầu là huyết sắc tố, huyết sắc tố bình thường gồm hai chuỗi Globin Alpha và 2 chuỗi Globin Beta với tỷ lệ 1/1.

Hồng cầu của người bệnh Thalassemia thường không bền, bị phá huỷ sớm làm bệnh nhân bị thiếu máu và ứ sắt. Khi thiếu hụt một trong hai sắc tố sẽ gây thiếu huyết sắc tố A, làm thay đổi đặc tính của hồng cầu, khiến hồng cầu dễ vỡ, quá trình tan máu hay vỡ hồng cầu diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời người bệnh.

Thalassemia được gọi tên theo chuỗi Globin bị khiếm khuyết, gồm có 2 loại nhóm chính là Alpha-Thalassemia và Beta-Thalassemia:

Beta Thalassemia là kết quả của sự giảm sản xuất chuỗi Beta – do đột biến gen hoặc mất gen quy định chuỗi Beta, dẫn đến hư hại sản xuất Hb A. Các đột biến hoặc mất gen có thể dẫn đến mất một phần (Beta +) hoặc mất hoàn toàn (Beta 0) của chức năng Beta Globin. Đây là hiện tượng không tổng hợp được hoặc tổng hợp nhưng bị thiếu hụt chuỗi Beta Globin.

Những người sống trong các vùng dịch tễ của bệnh như Địa Trung Hải, Trung Đông, châu Á, châu Phi là các đối tượng có khả năng mắc bệnh Thalassemia cao.

Nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu:

Tiền sử gia đình mắc bệnh thalassemia. Thalassemia được truyền từ cha mẹ sang trẻ thông qua gen đột biến hemoglobin. Nếu gia đình bạn có tiền sử bệnh thalassemia, bạn có nguy cơ mắc bệnh này.

Nguồn gốc tổ tiên. Thalassemia xảy ra thường xuyên nhất ở người Mỹ gốc Phi và ở người có nguồn gốc từ Địa Trung Hải và Đông Nam Á.

Thalassemia không phải là bệnh lây nhiễm mà là bệnh di truyền do người bệnh nhận cả 2 gen bệnh của bố và mẹ. Cứ 5 trường hợp bố mẹ khi kết hôn có thể sinh ra con mắc bệnh hoặc mang gen gây bệnh Thalassemia. Chẳng hạn, nếu bố và mẹ cùng mang gen gây bệnh, xác suất sinh con mắc bệnh thể nặng là 25%; thể nhẹ là 50%; và xác suất sinh con khỏe mạnh là 25%.

Nguyên nhân chính gây gia tăng số trẻ mắc bệnh mỗi năm là do cha mẹ không làm sàng lọc bệnh trước khi kết hôn. Do đó, các cặp vợ chồng trước khi kết hôn đừng quên thực hiện tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh vì hạnh phúc gia đình, vì tương lai giống nòi.

8.1 Các biện pháp chuẩn đoán:

Các bác sĩ sẽ chẩn đoán bằng những thông tin thu thập được từ việc khám sức khỏe để xác định tình trạng này. Tùy thuộc vào loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh Thalassemia, khám sức khỏe cũng có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh:

Bệnh nhân thường vào viện với các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng (như đã trình bày ở trên – mục 4: Người mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt. Da nhợt nhạt, xanh xao; có thể vàng da, vàng mắt. Nước tiểu vàng sẫm. Khó thở khi gắng sức.Trẻ chậm lớn,…). Điều quan trọng là phải nhận ra các dấu hiệu sớm để đi khám, có như vậy mới có thể phát hiện được bệnh sớm nhất có thể và điều trị kịp thời.

Bác sĩ sẽ là người thăm khám, phát hiện ra các triệu chứng thực thể trên lâm sàng, từ đó chỉ định các xét nghiệm phục vụ cho việc chẩn đoán bệnh.

Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi: Thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ, hồng cầu hình bia, reticulocyte tăng; bạch cầu và tiểu cầu giảm khi có cường lách.

Bilirubin gián tiếp, sắt và Ferritin: tăng.

X-Quang sọ: hình bàn chải, tủy rộng.

Điện di huyết sắc tố (Hemoglobin): HbF tăng, HbA­2 tăng, HbA1 giảm, có thể có HbH hoặc HbE

8.2 Các biện pháp điều trị bệnh Thalassemia:

Tùy theo loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh, phương pháp điều trị thalassemia sẽ được xác định. Bác sĩ sẽ cung cấp cho bạn một quá trình điều trị hiệu quả cho từng trường hợp cụ thể:

Mục đích: ngăn ngừa tổn thương các cơ quan do ứ sắt, đặc biệt là tim và nội tiết.

Desferoxamin tiêm dưới da 30-50mg/kg trong 8-12h × 5-7 ngày/tuần, hoặc tiêm tĩnh mạch lúc truyền máu.

Chú ý theo dõi thị lực, thính lực hàng năm.

Biến chứng sau cắt lách: Nhiễm trùng, tắc mạch.

Lưu ý: Bác sĩ có thể khuyên bạn không nên uống vitamin hoặc các chất bổ sung chứa sắt. Điều này đặc biệt đúng nếu bạn cần truyền máu. Những người được truyền máu sẽ nhận thêm chất sắt mà cơ thể không thể dễ dàng tiêu thụ được. Sắt có thể tích tụ trong mô, gây tử vong.

Là phương pháp hiện đại cho kết quả tốt trong điều trị Thalassemia. Tuy nhiên, ghép tủy xương có hạn chế là khó tìm được người cho tế bào gốc phù hợp.

Hemoglobin 1 tháng/lần.

Chiều cao, cân nặng 3 tháng/lần.

Ferritin 6 tháng/lần.

Kiểm tra tim mạch, nội tiết, tai, mắt; tính lượng máu truyền, vấn đề thải sắt 1 năm/lần

Thalassemia là bệnh có thể phòng tránh được.Các cặp vợ chồng mang gen bệnh Thalassemia, nếu sinh con bằng phương pháp tự nhiên, trẻ có 50% nguy cơ mang gen bệnh và 25% có nguy cơ mắc bệnh thể nặng. Do đó chúng ta nên phòng bệnh tan máu bẩm sinh cho thế hệ tương lai, cho con cái bằng cách làm các xét nghiệm trước khi quyết định kết hôn và sinh con.

Tầm soát phát hiện bệnh sớm:

Tư vấn tiền hôn nhân, đặc biệt là những người thuộc nhóm đối tượng nguy cơ của bệnh cần được tư vấn, làm các xét nghiệm để được phát hiện bệnh Thalassemia sớm. Nếu cả 2 vợ chồng đều mang một thể bệnh Thalassemia, nên được tư vấn trước khi có ý định mang thai.

Sàng lọc trước sinh, Đặc biệt là đối với các cặp vợ chồng cùng mang một thể bệnh Thalassemia có thai, nên làm các xét nghiệm tầm soát và chẩn đoán gen đột biến khi thai được 12 – 18 tuần. Phương pháp được thực hiện có thể là chọc ối hoặc sinh thiết gai nhau để tìm đột biến gen (nếu có).

Để tránh những hậu quả do Thalassemia, không chỉ những cặp vợ chồng có người thân trong gia đình từng bị Thalassemia mà cả những cặp vợ chồng trẻ không có biểu hiện bất thường hay không ai trong gia đình từng bị bệnh Thalassemia cũng nên làm xét nghiệm máu tổng quát, kiểm tra xem mình có mang gen bệnh không. Kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, xét nghiệm phát hiện gen bệnh, từ đó được áp dụng các phương pháp sàng lọc hiện đại hiệu quả, để trẻ sinh ra hoàn toàn khỏe mạnh, không mang gen bệnh.

Bạn sẽ có thể kiểm soát bệnh này nếu áp dụng các biện pháp sau:

Tránh sự dư thừa hàm lượng sắt trong cơ thể. Trừ khi bác sĩ khuyến cáo, bạn không dùng các loại vitamin hoặc các chất bổ sung có chứa sắt.

Có một chế độ ăn uống lành mạnh. Có một chế độ ăn uống cân bằng chứa nhiều thực phẩm bổ dưỡng có thể giúp bạn cảm thấy tốt hơn và tăng năng lượng của bạn. Bác sĩ cũng có thể khuyên bạn nên bổ sung axit folic để giúp cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mới. Ngoài ra, để giữ cho xương của bạn khỏe mạnh, đảm bảo chế độ ăn uống có đầy đủ canxi và vitamin D. Hãy hỏi bác sĩ những bổ sung thích hợp cho bạn và liệu bạn có cần phải bổ sung hay không.

Tránh nhiễm trùng. Bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm khuẩn bằng cách rửa tay thường xuyên và tránh những người bị bệnh. Điều này đặc biệt quan trọng nếu bạn phải cắt bỏ lá lách. Bạn cũng cần tiêm phòng cúm hàng năm cũng như các loại vắc-xin bệnh viêm màng não, viêm phổi và viêm gan B để ngăn ngừa nhiễm trùng. Nếu bạn bị sốt hoặc có các dấu hiệu và triệu chứng khác của nhiễm trùng, hãy đi khám bác sĩ để được điều trị.

Bệnh Giang Mai Nguy Hiểm Như Thế Nào

Tìm hiểu về bệnh giang mai qua các giai đoạn ở cả nam và nữ

Bệnh giang mai có thời gian ủ bệnh kéo dài, thường từ 21 – 90 ngày nên người bệnh khó có thể phát hiện được bản thân mình mắc bệnh. Thêm vào đó, các biểu hiện bệnh giang mai trong từng giai đoạn chồng chéo nhau nên người bệnh dễ bị nhầm lẫn với các bệnh thông thường khác như : viêm nhiễm. dị ứng,…

Các giai đoạn phát triển của bệnh giang mai ở nam và nữ :

1. Giai đoạn 1 (1 – 6 tuần)

Bệnh giang mai ở nam xuất hiện vết lở loét trên da ở dương vật, còn nữ giới xuất hiện ở âm đạo, và một số bộ phận khác: hậu môn, miệng, lưỡi… Những vết lở loét này còn gọi là săng giang mai với đặc điểm: hình tròn hoặc bầu dục, đường kính 3mm – 3cm, có viền cứng, màu đỏ, nhẵn, không ngứa, không đau. Hạch bạch huyết hai bên bẹn sưng nhưng không đau. Săng mai tự biến mất nghĩa là bệnh đang chuyển sang giai đoạn 2. Nên người bệnh thường nghĩ rằng bệnh giang mai tự hết nhưng thực chất bệnh đang chuyển sang giai đoạn 2.

2. Giai đoạn 2 (6 tuần – 6 tháng)

Người bệnh bắt đầu phát ban toàn thân, ấn vào thấy mất đi, không bong vảy nhưng tự biến mất sau 3 đến 6 tuần. Một vài trường hợp khác thì xuất hiện vết sẩn, loét, vết bỏng nước hoặc mụn cóc trên da và niêm mạc. Hạch bạch huyết ở bẹn có thể dịch chuyển kèm theo biểu hiện như hành sốt, mệt mỏi, đau họng, đau khớp trên cơ thể.

Đây là giai đoạn tiềm ẩn, căn bệnh giang mai không biểu hiện phát triển bên ngoài nhưng xoắn khuẩn giang mai đang âm thầm phá hoại nội tạng, thần kinh của người bệnh.

Những hoạt động của xoắn khuẩn giang mai ở giai đoạn tiềm ẩn bắt đầu biểu hiện những biến chứng bệnh lý nặng nề, nguy hiểm như: Giang mai thần kinh chiếm 6,5%; Giang mai tim mạch chiếm 10%; Củ giang mai chiếm 15%. Củ giang mai hay còn gọi là gôm giang mai xuất hiện khắp cơ thể sau khi mắc bệnh từ 1 – 15 năm. Bệnh nhân bị lở loét, hoại tử, sẹo khắp nơi trên cơ thể, nặng nhất là khiến khuôn mặt người bệnh bị dị dạng.

Nguy hiểm hơn, bệnh giang mai ở phụ nữ không chỉ gây ảnh hưởng đến bản thân mà nó còn gây ảnh hưởng đến thai nhi, thai chết (nếu mang thai), xảy thai hoặc sinh non.

Chính vì vậy khi phát hiện những dấu hiệu bệnh giang mai giai đoạn đầu hoặc nghi ngờ đó là giang mai. Người bệnh nên đi đến trung tâm chuyên khoa đặc trị để xét nghiệm bệnh giang mai và có kết quả chính xác. Nếu thấy biểu hiện, điều trị giang mai ngay từ sớm để có kết quả tốt nhất, phòng tránh bệnh phát triển và lây nhiễm sang người thân.

Nếu còn bất cứ thắc mắc nào cần tư vấn, giải đáp chị em có thể để lại câu hỏi tại [KHUNG CHAT], đội ngũ y bác sĩ của Đông Phương sẽ trả lời câu hỏi của bạn trong trời gian sớm nhất. Ngoài ra, bạn cũng có thể liên hệ qua đường dây nóng 0989 555 497 hoặc đến trực tiếp Phòng Khám Phụ Khoa Đông Phương địa chỉ 497 Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội để được tư vấn hoàn toàn miễn phí.