Bác Sĩ Bệnh Dịch Hạch / 2023 / Top 21 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Zqnx.edu.vn

Bác Sĩ Trường Dược Sài Gòn Chia Sẻ Về Bệnh Dịch Hạch / 2023

Bệnh dịch hạch là bệnh lý truyền nhiễm gây ra do vi khuẩn Yersinia pestis. Bệnh diễn tiến cấp tính với biểu hiện nhiễm khuẩn nhiễm độc toàn thân nặng nề.

TỔNG QUAN VỀ BỆNH DỊCH HẠCH

Bệnh dịch hạch là bệnh lý truyền nhiễm gây ra do vi khuẩn Yersinia pestis. Bệnh diễn tiến cấp tính với biểu hiện nhiễm khuẩn nhiễm độc toàn thân nặng nề. Người nhiễm vi khuẩn gây bệnh từ các loại động vật gặm nhấm như thỏ, chuột,… thông qua vật trung gian là bọ chét nhiễm khuẩn.

Nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn dịch hạch có tên gọi là Yersinia pestis. Đây là một loại trực khuẩn Gram âm, thuộc họ Enterobacteriaceae. Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 550C trong vòng 30 phút, ở 1000C trong vòng 1 phút và tiêu diệt bởi các thuốc sát khuẩn thường dùng. Yersinia pestis được đặt tên theo người phát hiện ra nó là bác sĩ người Pháp Alexandre Yersin.

TRIỆU CHỨNG BỆNH DỊCH HẠCH

Theo bác sĩ Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, triệu chứng dịch hạch khác nhau theo từng thể lâm sàng.

Dịch hạch thể hạch

Đây là thể bệnh phổ biến nhất:

Giai đoạn ủ bệnh trung bình khoảng 2-5 ngày, có thể kéo dài từ vài giờ đến 8-10 ngày, người bệnh chưa có biểu hiện lâm sàng gì.

Đến giai đoạn khởi phát, người bệnh đang khỏe mạnh đột ngột cảm thấy mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, sốt cao, rét run, đau nhức khắp cả người, đau nhiều ở những vị trí sắp sưng hạch.

Dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết

Khác với thể hạch, bệnh dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết biểu hiện tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc ngay cả khi hạch ngoại vi chưa viêm. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp phải bao gồm:

Sốt cao, trên 40 độ, kèm rét run

Lích động, mê sảng hoặc li bì trong các trường hợp nặng hơn

Rối loạn hô hấp và tim mạch

Bụng chướng, tiêu chảy

Xuất huyết da, niêm mạc và các cơ quan

Dịch hạch thể phổi

Bệnh khởi phát rất đột ngột sau thời gian ủ bệnh ngắn. Các triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc bắt đầu xuất hiện và nặng dần lên chỉ sau một vài giờ:

Sốt rất cao, trên 40 độ, rét run

Mệt mỏi, nhức đầu

Mạch nhanh, huyết áp giảm

Khó thở, thở nhanh nông. Ho nhiều, có đờm và máu, chứa nhiều vi khuẩn.

Dịch hạch thể da

Bệnh thường có biểu hiện lâm sàng tại chỗ. Các nốt dát xuất hiện tại vị trí vi khuẩn xâm nhập, sau tiến triển thành mụn nước rồi mụn mủ lẫn máu, bệnh nhân cảm thấy rất đau khi chạm vào. Da xung quanh mụn mủ xung huyết, thâm nhiễm, có gờ cao.

CÁC BIỆN PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH DỊCH HẠCH

Cũng theo bác sĩ giảng viên Văn bằng 2 Cao đẳng Dược thành phố Hồ Chí Minh, để khẳng định chẩn đoán một trường hợp mắc bệnh dịch hạch, không thể chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng đã đề cập mà còn phải cần sự phối hợp của các xét nghiệm cận lâm sàng xác định sự hiện diện của vi khuẩn. Các loại bệnh phẩm có thể thu thập để làm xét nghiệm bao gồm mủ từ hạch viêm, máu, đờm và các chất tiết vùng họng, huyết thanh của chuột hoặc bọ chét. Các phương pháp xét nghiệm có thể được chỉ định bao gồm:

Nhuộm soi vi khuẩn trực tiếp

Cấy và phân lập vi khuẩn

Phát hiện kháng nguyên F1 của vi khuẩn dịch hạch

Miễn dịch huỳnh quang

CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH DỊCH HẠCH

Điều trị ngay lập tức khi được chẩn đoán mắc bệnh dịch hạch

Tiến hành thành lập các khu vực cách ly người bệnh: có thể là trạm y tế xã, khoa truyền nhiễm của bệnh viện hoặc một phòng điều trị cách biệt với các khu vực điều trị khác

Bên cạnh việc sử dụng kháng sinh đặc hiệu theo chỉ định của bác sĩ cần kết hợp với điều trị nâng đỡ toàn trạng.

Bệnh Dịch Hạch Ở Chó / 2023

Bệnh dịch hạch là bệnh nhiễm khuẩn nguyên nhân do khuẩn ký sinh trùng chi Yersinia pestis gây nên. Tình trạng này xảy ra trên toàn thế giới. Ở Mỹ, khuẩn ký sinh trùng này hay tìm thấy ở vùng tây nam giữa những tháng 05 và 10. Vật chủ mang bệnh là chuột cống, sóc và chuột nhắt.

Vi khuẩn di chuyển nhanh chóng đến các hạch bạch huyết, nơi tế bào bạch cầu được sản sinh. Kết quả là tế bào bạch cầu nhân lên nhanh chóng, hạch bạch huyết có dịch và sưng lên và có thể làm rạn nứt da. Những con chó bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh dịch hạch sẽ bị sốt, viêm, và rất đau do các hạch bạch huyết bị sưng trong thời gian dài.

Bệnh này hiếm xảy ra ở chó do chúng có xu hướng có tính kháng cao với vi khuẩn loại này. Tuy nhiên, tất cả các loài hoặc giống chó đều có khả năng mắc bệnh như nhau.

Mặc dù rất hiếm khi xảy ra nhưng dịch hạch có thể lây truyền sang cho con người, và do vậy cần phải cẩn thận để tránh bọ chét và tiếp xúc với dịch cơ thể từ con vật bị nghi ngờ bị nhiễm vi khuẩn Yersinia.

Mèo cũng có thể bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh dịch hạch này. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm thông tin về ảnh hưởng của bệnh này đến loài mèo, hãy truy cập vào trang này.

Triệu chứng

Giai đoạn ủ bệnh thông thường với thể hạch là khoảng bảy ngày sau khi con vật bị đốt. Trong trường hợp con vật nhiễm dịch hạch thể phổi, thì phổi sẽ bị nhiễm trùng; và với thể nhiễm khuẩn huyết, thì xuất hiện các triệu chứng giống như ở thể hạch, cùng với xuất hiện tình trạng nhiễm trùng máu toàn thân.

Nguyên nhân

Vi khuẩn Yersinia truyền sang chó khi nó bị bọ chét mang mầm bệnh cắn hoặc khi nó ăn con vật gặm nhấm bị nhiễm khuẩn Yersinia. Một nguyên nhân khác có khả năng gây bệnh là từ môi trường sống của chính con vật đó.

Nếu nhà có nhiều bọ chét hoặc chủ nuôi sống gần vùng hoang dã, nơi chú chó tiếp xúc với loài vật gặm nhấm thì nó có nguy cơ cao bị mắc bệnh dịch hạch. Rác thải, củi và nguồn thức ăn cũng có thể là nguồn gây bệnh.

Chẩn đoán

Bác sỹ thú y sẽ tiến hành chẩn đoán đánh giá tổng thể cho chú chó của bạn, bao gồm các mẫu máu, mẫu nuôi cấy dịch, xét nghiệm thận và gan nhằm đưa ra chẩn đoán xác định. Hệ thống hạch bạch huyết bị sưng là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy con vật đang bị nhiễm khuẩn và các xét nghiệm máu sẽ cho thấy mức độ các tế bào bạch cầu xuất hiện giữa những chất khác, đây được xem là công cụ hỗ trợ để nhận diện vi khuẩn gây bệnh dịch hạch.

Kiểm tra sức khỏe toàn diện cho chú chó sẽ được tiến hành nhằm kiểm tra khu vực bị sưng quanh cổ và đầu, gan và thận, và kiểm tra các dấu hiệu của việc mất nước, sốt, nhiễm trùng phổi hoặc bất kỳ điều gì khác có thể đưa đến kết luận chắc chắn rằng dịch hạch là nguyên nhân làm cho chú chó của bạn bị ốm.

Thuốc sẽ được kê để điều trị các triệu chứng của bệnh, và nếu chú chó của bạn đã được xác định là mắc bệnh dịch hạch hoặc bị nghi ngờ mắc bệnh thì nó sẽ bị cách ly cho đến khi tình trạng này được giải quyết.

Bạn cần phải đưa lịch sử bệnh chi tiết về tình trạng sức khỏe của chú chó của bạn cho bác sỹ thú y, bao gồm các triệu chứng bệnh nền, và các tình huống đã xảy ra có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng này.

Điều trị

Chú chó của bạn cần được nhập viện để được điều trị các triệu chứng nghiêm trọng hơn của bệnh và sẽ được điều trị hoàn toàn bằng thuốc kháng sinh. Nếu con vật bị yếu đi và bị mất nước, lúc này nó sẽ cần được truyền dịch tĩnh mạch để giúp bù nước. Bọ trét cũng cần được xử lý. Với những con chó không được điều trị sớm và hiệu quả thì tỉ lệ tử vong sẽ cao.

Chăm sóc

Điều cần làm là kiểm soát bọ chét và loài vật gặm nhấm. Hiện tại chưa có kế hoạch tự kiểm soát căn bệnh này tại nhà, tất cả các trường hợp bị nghi ngờ là nhiễm khuẩn gây bệnh dịch hạch cần phải được báo ngay cho bác sỹ thú y. Tuy nhiên, giữ cho căn nhà không có bọ chét, giữ rác thải, thức ăn và củi ở mức tối thiểu sẽ giúp ích rất lớn trong việc làm giảm nguy cơ xuất hiện dịch hạch.

Chó cần được triệt sản, bởi cách này sẽ giúp làm giảm bản năng săn mồi của nó. Ngoài ra, những chú chó được nuôi trong nhà dường như ít bị tiếp xúc với vi khuẩn Yersinia. Nhưng nếu như bạn không có biện pháp giữ chúng trong nhà thì bạn cần phải đưa ra biện pháp chăm sóc phòng ngừa bọ chét cho chú chó của bạn.

Khi đi đến những nơi có sự xuất hiện của vi khuẩn gây bệnh dịch hạch thì cách tốt nhất là bạn cần phải kiểm soát chú chó của mình bằng dây xích hoặc luôn giữ nó trong môi trường được kiểm soát để hạn chế động vật gặm nhấm hoang dã hoặc bọ chét mang mầm bệnh.

Chẩn Đoán Bệnh Dịch Hạch, Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Điều Trị Dịch Hạch / 2023

Bệnh dịch hạch là bệnh lý truyền nhiễm gây ra do vi khuẩn Yersinia pestis. Bệnh diễn tiến cấp tính với biểu hiện nhiễm khuẩn nhiễm độc toàn thân nặng nề. Người nhiễm vi khuẩn gây bệnh từ các loại động vật gặm nhấm như thỏ, chuột,… thông qua vật trung gian là bọ chét nhiễm khuẩn. Ở Việt Nam vector gây bệnh chính là bọ chét Xenopsylla cheopis sống ký sinh chủ yếu trên chuột.

Trên lâm sàng bệnh dịch hạch được chia làm nhiều thể, bao gồm: thể hạch, thể phổi, thể não và thể nhiễm khuẩn huyết; trong đó thể hạch chiếm đa số với tỷ lệ hơn 90%. Thời tiết hanh khô là điều kiện phù hợp với sự phát triển của chuột và bọ chét, cũng là khoảng thời gian dịch hạch bùng phát mạnh nhất. Tuy nhiên dịch hạch vẫn được ghi nhận trong các khoảng thời gian khác trong năm.

Dịch hạch lưu hành ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Từ năm 1989-2003, ghi nhận được 2.845 trường hợp tử vong trong số 38.310 trường hợp mắc đến từ 25 quốc gia trên thế giới. Bệnh gây ra nhiều đại dịch khủng khiếp, cướp đi sinh mạng của hàng trăm triệu người trên thế giới. Ở Việt Nam, từ năm 1960-1970, mỗi năm có khoảng 10.000 trường hợp mắc bệnh, đứng đầu thế giới. Số ca bệnh giảm mạnh chỉ còn khoảng 140 trường hợp mỗi năm trong những năm sau đó. Đến nay gần như không ghi nhận được bất cứ trường hợp mắc dịch hạch nào ở các cơ sở y tế.

Người mắc bệnh dịch hạch có thể thu nhận được miễn dịch sau khi lành bệnh. Tuy nhiên tình trạng miễn dịch này chỉ mang tính chất tương đối, không bảo vệ được người bệnh trước sự tấn công của một lượng lớn các vi khuẩn.

Nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn dịch hạch có tên gọi là Yersinia pestis. Đây là một loại trực khuẩn Gram âm, thuộc họ Enterobacteriaceae. Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 550C trong vòng 30 phút, ở 1000C trong vòng 1 phút và tiêu diệt bởi các thuốc sát khuẩn thường dùng. Yersinia pestis được đặt tên theo người phát hiện ra nó là bác sĩ người Pháp Alexandre Yersin.

Để khẳng định chẩn đoán một trường hợp mắc bệnh dịch hạch, không thể chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng đã đề cập mà còn phải cần sự phối hợp của các xét nghiệm cận lâm sàng xác định sự hiện diện của vi khuẩn. Các loại bệnh phẩm có thể thu thập để làm xét nghiệm bao gồm mủ từ hạch viêm, máu, đờm và các chất tiết vùng họng, huyết thanh của chuột hoặc bọ chét. Các phương pháp xét nghiệm có thể được chỉ định bao gồm:

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh dịch hạch bao gồm:

Môi trường sống ô nhiễm, không đảm bảo vệ sinh

Sống trong các khu vực bệnh dịch hạch lưu hành

Thường xuyên tiếp xúc với các loài động vật gặm nhấm

Sức đề kháng của cơ thể suy yếu

Các biện pháp giúp phòng ngừa bệnh dịch hạch:

Diệt chuột: diệt định kỳ mỗi năm từ một đén hai lần, tương ứng vào các khoảng thời gian sinh sản của chuột. Diệt chuột bằng các loại hóa chất như đa liều như Warfarin, Brodifacou. Chỉ sử dụng các dạng thương phẩm đã được cấp phép.

Diệt bọ chét bằng các loại hóa chất được Bộ Y tế cấp phép như permethrin, vectron, diazinon.

Khi có dịch hạch, nên tiến hành kết hợp diệt bọ chét ngay sau khi diệt chuột. Sử dụng hộp mồi Kartman chứa hóa chất dạng bột để kết hợp diệt chuột và bọ chét. Cần kiểm tra hộp thường xuyên để bổ sung hóa chất.

Tuyên truyền giáo dục mọi người thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường: đặt bẫy, nuôi mèo, phá vỡ các hang ổ của chuột; bố trí, sắp xếp hàng hóa, nhất là lương thực thực phẩm hợp lý.

Luôn chuẩn bị đầy đủ thuốc điều trị, hóa chất và nhân lực, sẵn sàng đối phó nếu dịch bệnh xảy ra.

Phòng bệnh chủ động bằng vắc xin EV. Đây là một loại vắc xin sống, hiệu lực bảo vệ không cao. Vắc xin EV được chỉ định cho những người sống trong ổ dịch nhưng chưa có miễn dịch hoặc người phải di chuyển vào vùng có dịch lưu hành.

Với những người tiếp xúc với người mắc dịch hạch cần được theo dõi chặt chẽ và điều trị dự phòng khẩn cấp với: streptomycin 1g/ngày x 5 ngày hoặc tetracyclin 1g/ngày x 5 ngày. Khi có bệnh nhân tử vong, xác chết cần được quấn bằng vải tẩm chloramine 5%, đặt trong quan tài có rắc vôi bột và chôn cất dưới lòng đất ở độ sâu 2m hoặc hỏa táng.

Dịch hạch lây qua đường nào?

Bệnh dịch hạch được lan truyền theo các con đường sau:

Qua trung gian bọ chét: đây là con đường phổ biến nhất, lây qua đường máu và cần có sự có mặt của vật trung gian truyền bệnh. Bọ chét hút máu của vật chủ (chuột). Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch từ đó đến nhân lên trong tiền dạ dày của bọ chét làm tắc nghẽn đường tiêu hoá. Khi bọ chét đốt vật chủ mới (người), vi khuẩn sẽ theo vết đốt vào cơ thể vật chủ mới và gây bệnh. Thông thường sự lan truyền bệnh ghi nhận được từ các loài động vật gặm nhấm như chuột, thỏ,… sang người. Tuy nhiên sự lây lan trực tiếp từ người sang người vẫn xảy ra thông qua bọ chét Pulex irritans, ở Nam Phi.

Lan truyền trực tiếp: bệnh dịch hạch có thể lây lan từ vật chủ bệnh sang vật chủ lành mà không cần sự có mặt của vật trung gian truyền bệnh như bọ chét. Các đường lây lan trực tiếp có thể là:

Hô hấp: hít phải vi khuẩn dịch hạch tồn tại trong không khí do tiếp xúc với dịch hạch thể phổi hoặc vật chủ chết vì dịch hạch.

Tiêu hóa: đây là đường lây truyền ít gặp vì vi khuẩn dịch hạch dễ bị tiêu diệt khi đun sôi, nấu chín.

Da, niêm mạc: vi khuẩn dịch hạch có thể xâm nhập trực tiếp qua cả da lành và các vết thương hở trên da.

Triệu chứng dịch hạch khác nhau theo từng thể lâm sàng.

Thể hạch

Đây là thể bệnh phổ biến nhất.

Giai đoạn ủ bệnh trung bình khoảng 2-5 ngày, có thể kéo dài từ vài giờ đến 8-10 ngày, người bệnh chưa có biểu hiện lâm sàng gì.

Đến giai đoạn khởi phát, người bệnh đang khỏe mạnh đột ngột cảm thấy mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, sốt cao, rét run, đau nhức khắp cả người, đau nhiều ở những vị trí sắp sưng hạch.

Ở giai đoạn toàn phát, toàn thân bệnh nhân có biểu hiện nhiễm độc nhiễm trùng nặng:

Dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết

Khác với thể hạch, bệnh dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết biểu hiện tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc ngay cả khi hạch ngoại vi chưa viêm. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp phải bao gồm:

Sốt cao, trên 40 độ, kèm rét run

Lích động, mê sảng hoặc li bì trong các trường hợp nặng hơn

Rối loạn hô hấp và tim mạch

Bụng chướng, tiêu chảy

Xuất huyết da, niêm mạc và các cơ quan

Bệnh có tỷ lệ tử vong cao, chết trong vòng 1-2 ngày đầu, được gọi là “dịch hạch tối cấp”

Thể nhiễm khuẩn huyết có thể tiên phát hoặc thứ phát sau dịch hạch thể hạch, thể phổi tiên phát không được điều trị.

Dịch hạch thể phổi

Bệnh khởi phát rất đột ngột sau thời gian ủ bệnh ngắn. Các triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc bắt đầu xuất hiện và nặng dần lên chỉ sau một vài giờ:

Sốt rất cao, trên 40 độ, rét run

Mệt mỏi, nhức đầu

Mạch nhanh, huyết áp giảm

Khó thở, thở nhanh nông. Ho nhiều, có đờm và máu, chứa nhiều vi khuẩn

Dịch hạch thể phổi thứ phát sau thể hạch, thể nhiễm khuẩn huyết thường gặp hơn thể phổi tiên phát, có tiên lượng nặng hơn với tỷ lệ tử vong cao trong vòng 1 đến 2 ngày đầu của bệnh.

Thể da

Bệnh dịch hạch thể da thường chỉ có biểu hiện lâm sàng tại chỗ. Các nốt dát xuất hiện tại vị trí vi khuẩn xâm nhập, sau tiến triển thành mụn nước rồi mụn mủ lẫn máu, bệnh nhân cảm thấy rất đau khi chạm vào. Da xung quanh mụn mủ xung huyết, thâm nhiễm, có gờ cao. Các mụn mủ vỡ để lại vết loét với đáy thâm nhiễm vàng, phủ vảy đen. Các vết loét này lâu lành và chậm liền sẹo.

Dịch hạch có chữa được không?

Bệnh dịch hạch tuy vô cùng nguy hiểm nhưng có thể được điều trị bằng các loại thuốc kháng sinh sẵn có nếu được phát hiện sớm. Nguyên tắc điều trị của bệnh:

Điều trị ngay lập tức khi được chẩn đoán mắc bệnh dịch hạch

Tiến hành thành lập các khu vực cách ly người bệnh: có thể là trạm y tế xã, khoa truyền nhiễm của bệnh viện hoặc một phòng điều trị cách biệt với các khu vực điều trị khác

Bên cạnh việc sử dụng kháng sinh đặc hiệu theo chỉ định của bác sĩ cần kết hợp với điều trị nâng đỡ toàn trạng.

Các biện pháp điều trị nâng đỡ bao gồm:

Bệnh nhân mắc bệnh dịch hạch cần được điều trị nâng đỡ toàn trạng bằng các biện pháp như: truyền dịch, bù nước điện giải, điều chỉnh rối loạn toan kiềm, thuốc trợ tim mạch, hạ sốt, an thần.

Tiến hành hồi sức tích cực khi bệnh nhân có các biểu hiện của choáng, suy hô hấp, suy tuần hoàn, xuất huyết…

Nâng cao sức đề kháng bằng cách cung cấp một chế độ dinh dưỡng đầy đủ, nhiều vitamin và khoáng chất.

Copyright © 2019 – Sitemap

Tìm Hiểu Về Bệnh Dịch Hạch / 2023

Trong lịch sử hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, con người đã phải chống đỡ với vô vàn trận đại dịch khủng khiếp, với số tử vong có thể lên đến hàng trăm triệu người. Trong đó “Dịch hạch” là loại bệnh dịch nguy hiểm cho nhân loại mà mỗi khi nhắc đến ai cũng phải lo lắng, sợ hãi.

Ở Việt Nam, dịch hạch thường phát triển mạnh vào mùa khô, tuy nhiên dịch cũng được ghi nhận vào các thời gian khác trong năm.

Vậy, vì sao bệnh dịch hạch lại nguy hiểm? nguyên nhân gây bệnh dịch hạch là gì? Chúng ta sẽ cùng chúng tôi tìm hiểu vấn đề này.

Bệnh dịch hạch

Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm (còn gọi là cái chết đen), tiến triển cấp tính, lây lan mạnh với tỷ lệ tử vong cao, được xếp vào diện phải kiểm dịch và khai báo quốc tế.

Bệnh do trực khuẩn Yersinia pestis gây ra, lưu hành trong quần thể động vật thuộc những loài gặm nhấm (chủ yếu là chuột) và bọ chét ký sinh trên chúng. Từ đó, bệnh lây truyền sang người qua trung gian bọ chét nhiễm khuẩn.

Bệnh dịch hạch còn gọi là “Cái chết Đen” Các thể dịch hạch trên người

+ Thể hạch (chiếm hơn 90% các thể bệnh) là thể phổ biến nhất. Ở Việt Nam: 94-98% số ca mắc (Theo BV Chợ Quán từ 1997-1986).

+ Thể nhiễm khuẩn huyết: ở thể tiên phát Y.pestis xâm nhập số lượng lớn, không qua giai đoạn khu trú ở hạch, xét nghiệm máu có Y.pestis, thăm khám không phát hiện được triệu chứng viêm hạch.

+ Thể phổi (Pneumonic): thể bệnh đáng sợ nhất; bệnh tiến triển nhanh, lây lan nhanh và tử vong cao.

+ Thể màng não (Plague Meningitis): Ít gặp; luôn thứ phát sau thể hạch, nhiễm trùng huyết. Y.pestis vượt qua hàng rào máu – dịch não tủy gây tổn thương não, màng não.

Triệu chứng

Thể hạch (chiếm 90%)

Thể hạch biểu hiện bằng việc phát bệnh đột ngột. Bệnh nhân thấy ớn lạnh, mệt mỏi, đau cơ, đau bụng, buồn nôn và đau đầu. Sau đó, bệnh chuyển sang giai đoạn toàn phát với các triệu chứng đặc trưng là nhiễm khuẩn, nhiễm độc và sưng hạch.

Hạch có thể to bằng ngón tay cái hoặc bằng quả trứng gà, lúc đầu đau và cứng chắc, sau đó, hạch mềm hoá mủ. Thể hạch có thể tiến triển thành nhiễm khuẩn huyết, thể phổi hoặc viêm màng não thứ phát.

Thể hạch nếu không được điều trị sớm sẽ tiến triển đột ngột thành nhiễm khuẩn tối cấp (sốt cao 40 – 410C), tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc, huyết áp giảm, mạch nhanh, nhỏ, vật vã, rối loạn tinh thần, hôn mê, thường bệnh nhân chết trong vòng 3 – 5 ngày.

Thể hạch to bằng ngón tay cái hoặc bằng quả trứng gà chiếm tỷ lệ 90% Thể nhiễm khuẩn huyết, thể phổi, thể viêm màng não (thường là thứ phát)

Dịch hạch thể phổi rất nguy hiểm vì có thể lây truyền trực tiếp qua đường hô hấp từ người bệnh sang người lành và bùng phát thành dịch lớn. Bệnh nhân có dấu hiệu ở phổi, đờm loãng, có bọt dính máu, thường xuất hiện tràn dịch màng phổi, có biến chứng phù phổi cấp, tỷ lệ tử vong cao.

Đặc tính sinh học của chuột

Chuột là loại gậm nhấm, có thói quen chạy trên các lối cũ đã qua. Chúng cảnh giác với vật lạ, nếm thức ăn trước, đánh dấu bằng nước tiểu, phân và biết phân ranh giới, xác định lãnh thổ. Loài chuột sống gần người và thích ứng với đời sống của con người.

Mức độ sinh sản của chuột rất cao. Hàng năm, chuột sinh sản 4 lứa, mỗi lứa sáu con và 3 tháng sinh một lần, mỗi lần sinh số con tăng gấp 4 lần.

Các loài chuột (có khoảng 500 loại chuột, nhưng chỉ có 5 loại chính sống gần người và gây hại trực tiếp cho người) gồm:

1. Chuột cống: (Rattus norvegicus)

Chuột cống nặng trên 450g (thân to), lông đổi từ nâu xám đến xám đen, thường hoạt động dưới đất, di chuyển phạm vi 50m, đào hang, ăn tạp (20-30g thịt/ngày).

Chuột sinh sản rất nhanh, mỗi lần sinh số con tăng gấp 4 lần 2. Chuột lắt: (Rattus exulans)

Chuột lắt kích thước nhỏ bé, lông xám thẩm, sống nhà vách tranh, nứa, thức ăn tinh bột (dạng hạt), thực vật, đi qua được các khe rất nhỏ, lông đuôi 1 màu.

3. Chuột nhắt: (Mus musculus)

Chuột nhắt nặng 14g, phân bố khắp thế giới, sống trong nhà hoặc ngoài nhà, đào hang hoặc làm tổ trong các vật dụng bằng gỗ, di chuyển 3-10m, ăn tạp/rau củ (3 g/ngày), đặc biệt rất ít cần nước.

4. Chuột đồng: (Rattus rattus)

Chuột đồng nặng trên 260g, phân bố ở châu Á, thích leo trèo (nhưng đôi lúc vẫn đào hang), làm tổ trong nhà và dọc vườn cây, di chuyển khoảng 50m.

5. Chuột xạ: (Suncus murinus)

Chuột xạ tiết mùi hôi (tuyến cạnh sườn), sống trên mặt đất, không leo trèo, lông màu xám tro. Chuột xạ là loài ăn côn trùng, đuôi có lông mọc dài, mũi mắt rất nhỏ, tai có nhiều ngăn phức tạp.

Mối liên hệ giữa chuột và bệnh dịch hạch

Các loài chuột thường gặp như chuột cống chuột lắt, chuột đồng, chuột nhắt, chuột đất lớn, chuột chù xạ là vật chủ gây bệnh dịch hạch ở Việt Nam.

Bệnh dịch hạch là bệnh truyền nhiễm cấp tính, tối nguy hiểm do vi khuẩn Yersinia pestis. Bệnh từ động vật, chủ yếu là bộ gậm nhấm (Rodentia), lây qua người bởi bọ chét ký sinh.

Vi khuẩn Yersinia pestis gây ra “Cái chết Đen”

Bệnh lây truyền qua trung gian bọ chét đã hút máu vật chủ mang bệnh dịch hạch sau đó lan truyền trực tiếp từ vật chủ bị bệnh không qua bọ chét bằng cách xâm nhập trực tiếp qua da có tổn thương, hoặc do động vật có mang bệnh cắn cào, hít trực tiếp Yersinia pestis có trong không khí từ vật chủ bị dịch hạch thể phổi. Bọ chét chuột là nguyên nhân chính của bệnh Dịch hạch tại Việt Nam.

Ngoài ra, chuột còn là tác nhân gây ra những bệnh như: bệnh sốt hoàng đản- xuất huyết nhiễm trùng do nước đái chuột; nhiễm vi trùng kiết lỵ, amibe, vi khuẩn salmonella… do ngộ độc phân chuột, bệnh uốn ván do chuột cắn, bệnh sốt bụi rậm do ve mạt kí sinh trên chuột cắn…

Phương pháp phòng bệnh dịch hạch

+ Đảm bảo vệ sinh môi trường.

+ Quản lý lương thực, thực phẩm, tránh để thừa, đọng thức ăn dư.

+ Nuôi mèo, đặt bẫy, phá vỡ hang tổ chuột.

+ Khống chế, phá hủy nơi sinh sản của chuột, bọ chét.

+ Dùng hoá chất các loại gây ngộ độc cho chuột qua thức ăn, nước uống, không khí (xông hơi diệt chuột).

Diệt chuột và bọ chét

Diệt chuột

+ Diệt đại trà bằng hoá chất, diệt định kỳ hàng năm từ 1 đến 2 lần vào thời gian sinh sản của chuột. Kết hợp diệt chuột và bọ chét bằng việc sử dụng hộp mồi theo nguyên tắc hộp mồi “Kartman”.

+ Khi có dịch hạch (ở chuột hoặc ở người): Không diệt chuột đại trà, chỉ diệt khi chỉ số bọ chét thấp hơn 1 hoặc bằng 0 và tiến hành diệt bọ chét bằng hoá chất đặc hiệu ngay sau khi diệt chuột.

+ Hoá chất diệt chuột: Dùng hoá chất đa liều như Warfarin 0,05% hoặc Brodifacoum 0,005 – 0,01%, tốt nhất ở dạng thương phẩm như Klerat, Rat Killer hoặc theo hướng dẫn hàng năm của Bộ Y tế. Chỉ sử dụng hoá chất diệt chuột đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu hành.

Diệt bọ chét

+ Phun hoá chất phù hợp dạng tồn lưu như Permethrin 0,2 g/m2, Vectron 01 – 0,2 g/m2, Diazinon 2 g/m2 hoặc các hoá chất diệt bọ chét khác đã được Bộ Y tế cho phép sử dụng trong y tế và gia dụng (cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu hành). Nên diệt bọ chét ngay từ đầu mùa dịch ở những nơi có dịch năm trước và những vùng có nguy cơ lây lan.

+ Đặt hộp mồi Kartman thường trực có hoá chất diệt bọ chét dạng bột và cần có thêm mồi hấp dẫn chuột. Thường xuyên kiểm tra hộp mồi để bổ sung hoá chất diệt bọ chét, diệt chuột và mồi hấp dẫn. Thời gian duy trì hộp mồi thường trực tuỳ thuộc vào chỉ số bọ chét tự do và mật độ chuột.

+ Khi thấy chuột chết bất thường, chết nhiều phải khai báo ngay với y tế cơ sở.

+ Khi đang có dịch dịch hạch, không được diệt chuột mà chỉ áp dụng các biện pháp diệt bọ chét.

Lời kết

Bên cạnh những dịch bệnh virus, nhiễm khuẩn đường hô hấp…thì những bệnh do chuột gây ra cho con người là cực kỳ thảm khốc (còn gọi là cái chết Đen) – tên gọi của một đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ 14 mà đỉnh điểm là châu Âu từ năm 1348 đến năm 1350.

Cái chết đen được coi là một trong những đại dịch chết chóc lớn nhất trong lịch sử nhân loại, ước tính nạn dịch này đã giết chết từ 30 tới 60% dân số của châu Âu và giảm dân số toàn cầu từ khoảng 450 triệu người xuống còn từ 350 đến 375 triệu người vào năm 1400, vì vậy việc phòng ngừa dịch bệnh là việc làm cực kỳ cần thiết.

Ở Việt Nam, hiện không tiêm phòng vaccin dịch hạch, vì vậy công tác phòng ngừa dịch hạch chủ yếu là khuyến cáo người dân thường xuyên đảm bảo vệ sinh môi trường, không để thừa, đọng thức ăn dư, quản lý lương thực, thực phẩm, nuôi mèo, đặt bẫy, phá vỡ hang tổ chuột, phá hủy nơi sinh sản của chuột, bọ chét. Đặc biệt, khi thấy chuột chết bất thường phải khai báo ngay với y tế cơ sở…để khoanh vùng và thực hiện các phương pháp chống dịch, tránh lây lan.

Theo Benh

Cùng Chuyên Mục

Bình Luận Facebook