Xu Hướng 9/2023 # Thực Trạng Nguy Cơ Mắc Bệnh Dại Ở Người Làm Nghề Giết Mổ Chó Và Hiệu Quả Can Thiệp Tại Một Số Quận Huyện Của Thành Phố Hà Nội, 2023 # Top 12 Xem Nhiều | Zqnx.edu.vn

Xu Hướng 9/2023 # Thực Trạng Nguy Cơ Mắc Bệnh Dại Ở Người Làm Nghề Giết Mổ Chó Và Hiệu Quả Can Thiệp Tại Một Số Quận Huyện Của Thành Phố Hà Nội, 2023 # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Nguy Cơ Mắc Bệnh Dại Ở Người Làm Nghề Giết Mổ Chó Và Hiệu Quả Can Thiệp Tại Một Số Quận Huyện Của Thành Phố Hà Nội, 2023 được cập nhật mới nhất tháng 9 năm 2023 trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thực trạng nguy cơ mắc bệnh dại ở người làm nghề giết mổ chó và hiệu quả can thiệp tại một số quận huyện của thành phố Hà Nội, 2023-2023.Bệnh dại (Rabies) là bệnh viêm não tủy cấp tính do vi rút dại gây nên.Vi rút bệnh dại chủ yếu lây từ động vật sang động vật hoặc động vật sang người qua chất tiết và hầu hết là nước bọt của động vật có vi rút dại thông qua các vết cắn, cào, liếm [124]. Kể cả người và động vật, một khi đã có biểu hiện triệu chứng lâm sàng lên cơn dại thì tử vong hầu như là 100%. Mặc dù bệnh dại, đã có vắc xin và huyết thanh kháng dại rất có hiệu quả để phòng và điều trị dự phòng, nhưng cho đến nay, bệnh dại vẫn là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng ở một số nước trên thế giới [120].Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có hơn 3 tỷ người có nguy cơ tại hơn mắc dại trên 150 quốc gia. Bệnh dại có tỷ lệ tử vong cao nhất tất cả các bệnh truyền nhiễm trên toàn thế giới, hiện nay vẫn có khoảng 50.000-60.000 trường hợp tử vong hàng năm. Ảnh hưởng nhiều nhất là các nước nhiệt đới và khu vực thuộc châu Phi, châu Á, Nam Mỹ và châu Đại Dương. Chi phí hàng năm của bệnh dại ở châu Phi và châu Á được ước tính khoảng 583.500.000 đô la, trong số đó là chi phí dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) [120]. Bệnh dại hiện đang gia tăng và diễn biến phức tạp ở một số nước trong khu vực như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Indonesia [42], [12], [52]. Số liệu thống kê gần đây cho thấy, bệnh dại có nguy cơ gia tăng ở những quốc gia châu Á có phong tục ăn thịt chó [64], [65], [111], [112], [128]. Việc phát hiện kháng nguyên dại trong mô não của những con chó khoẻ mạnh đã giết thịt để tiêu thụ ở một số quốc gia đã chỉ ra mức độ lưu hành của bệnh và nguy cơ sức khoẻ cộng đồng [111], [87], [102], [107].

Thực Trạng Bệnh Dại Ở Người Tại Các Tỉnh Trung Du, Miền Núi Phía Bắc Và Hiệu Quả Can Thiệp Truyền Thông Thay Đổi Hành Vi Trong Trường Học

Thực trạng bệnh Dại ở người tại các tỉnh trung du, miền Núi phía Bắc và hiệu quả can thiệp truyền thông thay đổi hành vi trong trường học. Bệnh Dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do vi rút Dại gây ra. Bệnh rất dễ lan truyền thành dịch trong cộng đồng vì bệnh lây truyền từ động vật (chủ yếu là chó) sang người và động vật qua chất tiết, nước bọt của động vật có vi rút Dại thông qua các vết cắn, cào, liếm trên da và niêm mạc bị tổn thương [7, 61].

Hiện nay bệnh Dại đang là vấn đề y tế công cộng, nó đe dọa sức khỏe và kinh tế của người dân sống trên toàn cầu. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh Dại xảy ra ở hơn 150 quốc gia trên Thế giới ở các mức độ khác nhau [105], [117]. Hơn một nửa dân số Thế giới sống trong vùng có bệnh Dại lưu hành. Mỗi năm có hơn chục triệu người bị động vật Dại hoặc nghi Dại cắn phải đi tiêm phòng bằng vắc xin Dại trong đó có tới hơn 40% nạn nhân là trẻ em dưới 15 tuổi; có khoảng 59.000 (25.000-159.000) người chết do bệnh Dại, 30-60% số người tử vong là trẻ em dưới 15 tuổi với phí tổn hàng năm là hàng tỷ đô la và nếu không được điều trị dự phòng thì mỗi năm trên Thế giới sẽ có 330.000 người mắc và chết do bệnh Dại [20], [91], [117]. Tỷ lệ chết Dại ở Việt Nam cũng khá cao đứng thứ 14 trên Thế giới và liên tục đứng hàng đầu trong danh sách tử vong do các bệnh truyền nhiễm trong những năm gần đây. Số người đi tiêm vắc xin phòng Dại hàng năm lên là nửa triệu người với tốn phí hơn 300 tỷ đồng mỗi năm [121]. Trong thời gian gần đây, bệnh Dại đã và đang gia tăng ở các tỉnh miền núi phía bắc, chiếm tới 54% số ca tử vong của cả nước [10]. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng bệnh Dại tại khu vực miền núi và trung du phía bắc là cần thiết cả về khoa học và thực tiễn nhằm cung cấp thêm bằng chứng khoa học cho công tác phòng chống Dại cho vùng này cũng như cả nước.2 Mặt khác trẻ em là nhóm đối tượng có nguy cơ cao chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm bị phơi nhiễm với bệnh Dại nên cần thiết được quan tâm và can thiệp kịp thời để giảm thiểu nguy cơ. Theo mô hình của Liên minh Toàn cầu phòng chống bệnh Dại, truyền thông giảm thiểu nguy cơ đối với trẻ em lứa tuổi đến trường là một trong những biện pháp hiệu quả bền vững trong việc làm giảm tỷ lệ trẻ em bị động vật cắn và điều đó cũng góp phần giảm được tỷ lệ phơi nhiễm chung của cộng đồng. Để đánh giá hiệu quả của biện pháp truyền thông nguy cơ bệnh Dại tại trường học, nghiên cứu lựa chọn Phú Thọ là tỉnh trung tâm của khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, tỉnh Phú Thọ liên tục có số trường hợp tử vong đứng đầu cả nước từ nhiều năm gần đây để tiến hành điều tra và can thiệp bằng truyền thông trong trường học. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp thêm bằng chứng khoa học cho chương trình khống chế và loại trừ bệnh Dại về hiệu quả của can thiệp truyền thông nhằm giảm số trường hợp tử vong. Vì những lý do nêu trên, nghiên cứu ” Thực trạng bệnh Dại ở người tại các tỉnh trung du, miền Núi phía Bắc và hiệu quả can thiệp truyền thông thay đổi hành vi trong trường học” được triển khai với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng mắc và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với bệnh Dại ở người tại các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, giai đoạn 2010- 2023. 2. Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông thay đổi hành vi phòng chống bệnh dại ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại 3 huyện của tỉnh Phú Thọ, 2023-201

Thực Trạng Bệnh Nghề Nghiệp Của Nhân Viên Y Tế Thành Phố Cần Thơ Năm 2023

Tập XXVI, số 11 (184) 2023

Situation of occupational diseases among health care workers in Can Tho City, 2023-2023

Tác giả: Bùi Thị Lệ Uyên, Nguyễn Nhân Nghĩa, Trần Thị Ngọc Lan

Tóm tắt:Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng bệnh nghề nghiệp (BNN) của nhân viên y tế (NVYT) làm việc tại các bệnh viện và trung tâm y tế tuyến tỉnh, tuyến huyện thuộc thành phố Cần Thơ năm 2023-2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 965 NVYT làm việc tại 12 bệnh viện và Trung tâm Y tế ở thành phố Cần Thơ có 35 cán bộ mắc BNN, chiếm tỉ lệ 3,63%; trong đó có 2,28% bị viêm gan vi rút B nghề nghiệp, 0,31% viêm gan vi rút C nghề nghiệp, 0,93% lao nghề nghiệp, 0,1% bệnh phóng xạ nghề nghiệp, không có trường hợp nhiễm HIV nào do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; Trong số 35 NVYT mắc BNN, có 34 trường hợp (97,14%) do các tác nhân lây nhiễm vi sinh vật; chỉ có 01 trường hợp (2,86%) bị BNN do tác nhân không lây nhiễm; Tại hệ thống điều trị có 3,72% NVYT mắc bệnh nghề nghiệp, trong đó, có 2,15% bị bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp, 0,14% bị bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp, 1,29% bị bệnh lao nghề nghiệp và 0,14% bị bệnh phóng xạ nghề nghiệp.Tại hệ thống y tế dự phòng có 3,37% NVYT mắc bệnh nghề nghiệp, trong đó 2,62% bị bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp, 0,75% bị bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp; Có tổng cộng 2,38% NVYT bị tai nạn nghề nghiệp, trong đó có 2,28% NVYT bị tổn thương do vật sắc nhọn đâm, chỉ có 0,1% NVYT bị máu, dịch tiết văng vào cơ thể. Nghiên cứu cho thấy nguy cơ và mức độ mắc bệnh nghề nghiệp đáng báo động của nhân viên y tế.

Summary:A cross-sectional study was conducted to describe the occupational diseases situation of health care workers at hospitals, district and provincial centers of preventive medicine of Can Tho City, 2023-2023. The results showed that among 965 health care workers working in 12 hospitals and health centers in Can Tho City, there were 35 cases diagnosed with occupational diseases, accounting for 3.63%; of which, there are 2.28% of HBV, 0.31% of HCV, 0.93% of occupational tuberculosis, 0.1% for occupational radiation disease. Most cases of occupational diseases are caused by microbiological factors, accounting for 97.14% rate; only 2.86% of occupational disease caused by physical factors.; In hospital, we found 3.72% of HCWs have the occupational disease, in which 2.15% are HBV, 0.14% for HCV, 1.29% for tuberculosis and 0.14% for occupational radiation disease; In preventive medicine system, there are 3.37% HCWs have got occupational diseases, in which 2.62% got the HBV and 0.75% HCV. 2.38% of HCWs got the occupational accidents, there is including 2.28% injured by sharp objects, only 0.1% of HCWs was blood, secretions splashed into the body. Survey results showed that the level of occupational diseases of health care workers at an alarming level, it should have more attention from authorities, leaders of the medical unit as well as health care workers in compliance with the occupational health and safety regulations.

Từ khóa:Cần Thơ, viêm gan vi rút, nhiễm HIV, bệnh nghề nghiệp

Keywords:Can Tho City, Hepatitis virus, HIV infection, occupational disease

File nội dung: O1611146.pdf

Một Gia Đình Ở Hà Nội Có 5 Người Mắc Covid

Sáng 31/1, ông Nguyễn Trường Sinh, Chủ tịch UBND phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm xác nhận thông tin trên. Người vợ bệnh nhân 1694 tên P.T.T.T., là kế toán tại địa chỉ 136 Hồ Tùng Mậu, Phú Diễn, Bắc Từ Liêm. Hàng ngày, người này chủ yếu làm việc tại nhà, thỉnh thoảng mới đến công ty (đã đến công ty vào ngày 20/1 và 28/1, có tiếp xúc với 3 người cùng làm). Ngày 27/1, bệnh nhân tiếp xúc với người quen ở địa chỉ 81 Lạc Trung. Đến ngày 26/1, đi gội đầu tại quán đối diện nhà ở đường Phúc Diễn, phường Xuân Phương. Ngày 29/1, bệnh nhân đi chợ Cầu Diễn (khi đi có đeo khẩu trang). Người con trai tên N. Đ. N. K., sinh năm 2012, học sinh lớp 3E, Trường tiểu học Xuân Phương. Ngoài giờ đi học, cháu bé chỉ ở nhà, không đi đâu. Ca dương tính thứ ba là em vợ bệnh nhân 1694, tên P.T.B.N., làm kinh doanh tự do. Ngày 18/1, người này đi đền Đức Vua ở Hưng Yên với 5 người khác.

Ngày 23 – 24/1, bệnh nhân về Thái Bình cùng gia đình, tiếp xúc với 10 người (không đeo khẩu trang). Đến chiều ngày 26/1, bệnh nhân đi ăn bún đậu tại Nghĩa Tân, Cầu Giấy cùng bạn (không nhớ tên quán). Ngày 29/1, người này chợ Cầu Diễn (có đeo khẩu trang). Trường hợp thứ tư là bố vợ bệnh nhân 1694, tên P. P. T., sinh năm 1957. Người này bị liệt từ năm 2023 nên chỉ ở nhà. Ca dương tính thứ năm là mẹ vợ bệnh nhân 1694, tên N. T. T., sinh năm 1959. Bệnh nhân chỉ ở nhà chăm chồng, ngày 23 – 24/1 có về Thái Bình cùng gia đình. Trường hợp còn lại trong gia đình hiện đã có kết quả xét nghiệm ban đầu âm tính SARS-CoV-2. Cháu bé là con thứ 2 của bệnh nhân 1694, sinh năm 2023, học tại Trường mầm non Cầu Diễn. Bé gái đang được cách ly tại Trung đoàn Bộ Binh 59 (B59) Xuân Mai, Chương Mỹ. Trước đó, sáng 30/1, bệnh nhân 1694 được công bố là ca dương tính SARS-CoV-2 thứ ba tại Hà Nội. Người này từng đi dự đám cưới tại Nam Sách, Hải Dương hôm 17/1, có tiền sử tiếp xúc với bệnh nhân 1584 tại Hải Dương. Đến nay, Hà Nội đã ghi nhận 10 ca Covid-19 lây nhiễm trong cộng đồng tính từ đợt dịch mới, gồm 6 ca tại Nam Từ Liêm, 1 tại Hai Bà Trưng, 1 ở Cầu Giấy và 1 ở Đông Anh.

Nguyễn Liên

Thực Trạng Công Tác Phòng Chống Bệnh Nghề Nghiệp Tại Một Số Doanh Nghiệp Tỉnh Thái Nguyên Giai Đoạn 2011

Tập XXVI, số 11 (184) 2023

Situation of occupational disease prevention activity at enterprises in Thai Nguyen from 2011 to 2023

Tác giả: Nguyễn Văn Kính, Trần Thị Thúy Ngà

Tóm tắt:Đánh giá hiệu quả sau 5 năm (2011-2023) triển khai nhân rộng mô hình phòng chống bệnh nghề nghiệp. Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang được tiến hành năm 2023 với một số doanh nghiệp lớn thuộc tuyến tỉnh quản lý. Kết quả cho thấy: Số mẫu bụi vượt tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép giảm có ý nghĩa thống kê. Yếu tố chiếu sáng trong môi trường lao động cũng được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ mắc mới bệnh nghề nghiệp có sự thay đổi rõ nét giữa năm 2011 và 2023. Tuy nhiên, còn một số yếu tố cải thiện nhưng kết quả rất hạn chế như: Tiếng ồn, vi khí hậu nóng, hơi, khí độc. Đặc biệt công tác khám phát hiện bệnh nghề nghiệp của các đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, chỉ có trên 54% số cơ sở thực hiện khám bệnh nghề nghiệp. Số người được khám bệnh nghề nghiệp hàng năm thấp, trung bình chiếm 1,74% số lao động. Số lượt người được tập huấn tuyên truyền trực tiếp vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động hằng năm chỉ chiếm 5,74%.

Summary:A descriptive cross-sectional epidemiology study was conducted in 2023 at some enterprises administered by province. There are some positive results: Number of dust samples exceeding occupational hygiene standards has decreased; Lighting elements in working environment have been improved remarkably; Incidence of occupational disease have changed sharply between 2011 and 2023. However, there are also factors with limited improvement such as: Noise, microclimate, heat, vapor and toxic gas. Particularly, the activity of occupational disease examination of units has not received proper care and consideration; only 54% of total units conducting occupational disease examination. The number of people receiving occupational examination every year is relative low, (1.74%) as well as the number of people trained and educated about occupational hygiene and health care, about 5.74%.

Từ khóa:Sau 5 năm, mô hình phòng chống bệnh nghề nghiệp, giữa năm 2011 và 2023

Keywords:After 5 years, occupational prevention model, between 2011 and 2023

File nội dung: O1611107.pdf

Tỉ Lệ Và Một Số Yếu Tố Nghề Nghiệp Liên Quan Đến Bệnh Chàm Tay Của Nhân Viên Y Tế Tại Quận 5 Tphcm

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Đỗ Văn Dũng, Đặng Thị Ngọc Bích (2023), “Tỉ lệ hiện mắc thời khoảng 1 năm bệnh chàm tay của nhân viên y tế”, Tạp chí Y Học Thực Hành số2(1034) trang 205 – 207 2. Đỗ Văn Dũng, Đặng Thị Ngọc Bích (2023), “Các yếu tố nguy cơ trongbệnh chàm tay của nhân viên y tế”, Tạp chí Y Học Thực Hành số 2(1034)trang 102 – 104 3. Đỗ Văn Dũng, Đặng Thị Ngọc Bích (2023), “Hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đến hành vi phòng ngừa bệnh chàm tay ở nhân viên ytế”, Tạp chí Y Học Thực Hành số 11 (1085) trang 46 – 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO A. TIẾNG VIỆT 1. Bộ Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội (1998), Thông Tư Liên Tịch 08, 2. Đặng Thị Ngọc Bích (2008), Kiến Thức – Thái Độ – Thực Hành Và Tỉ Lệ Hiện Mắc Bệnh Chàm Bàn Tay Ở Thợ Hồ Tại Tổng Công Ty Xây Dựng – Thương Mại Số 3 TPHCM, Luận Án Tốt Nghiệp Chuyên Khoa Cấp IIDa Liễu, Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.70-83. 3. Bộ Y Tế (2014), “Cán Bộ Y Tế”, Tóm tắt số liệu thống kê y tế 2009-2013, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, tr.8. 4. Bộ Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội (2012), Nghiên Cứu Phòng Chống Bệnh Nghề Nghiệp Và Những Bệnh Dự Kiến Được Bổ Sung, http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=16925, Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 5. Nguyễn Cảnh Cầu, Nguyễn Khắc Viện và cộng sự (2001), “Bệnh Da Nghề Nghiệp”, Giáo Trình Bệnh Da Và Hoa Liêu (dành cho đào tạo sau đạihọc), Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, tr. 231 – 236. 6. Nguyễn Cảnh Cầu, Nguyễn Khắc Viện và cộng sự (2001), “Eczema (Bệnh Chàm)”, Giáo Trình Bệnh Da Và Hoa Liêu (dành cho đào tạo sau đại học), Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, tr. 201 – 207. 7. Đỗ Văn Dũng (2012), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Đại học Y Dược, TPHCM, 8. Khương Văn Duy (2014), “Đại Cương Sức Khỏe Nghề Nghiệp”, trong sách: Bệnh Nghề Nghiệp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.7-13. 9. Đỗ Văn Hàm (2007), Sức Khỏe Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr. 10 – 14. 10. Đỗ Văn Hàm (2007), Vệ Sinh Lao Động Và Bệnh Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Lao Động-Xã Hội, tr. 3. 11. Trương Công Hòa (2006), “Suy Diễn Nguyên Nhân”, trong sách: Dịch Tể Học Cơ Bản, (bài giảng của bộ môn Dịch Tễ, khoa Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược TPHCM), tr. 164-171. 12. Lưu Ngọc Hoạt (2009), Lồng ghép nhiều thiết kế trong 1 nghiên cứu, Bài giảng của viện YHDP và YTCC, Đại học Y Hà Nội, 13. Nguyễn Duy Hưng (2012), Bệnh Da Nghề Nghiệp, Trang thông tin điện tử của Viện Da Liễu Trung Ương, 14. Trần Hậu Khang (2014), “Viêm Da Cơ Địa”, trong sách: Bệnh Học Da Liêu, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, tr. 75 – 83. 15. Vũ Đình Lập, và cộng sự (1992), “Bệnh Da Nghề Nghiệp”, trong sách: Bệnh Da Và Các Bệnh Lây Qua Đường Tình Dục, Bệnh Viện Da Liễu Xuất Bản, Sở Y Tế TPHCM, tr. 373 – 376. 16. Nguyễn Đỗ Nguyên (2006), “Cỡ mẫu”, trong sách: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Y Khoa, tr. 34-43. 17. Lê Hoàng Ninh (2011), Phương Pháp Chọn Mẫu Và Xác Định Cỡ Mẫu Trong Nghiên Cứu Y Học, Nhà Xuất Bản Y Học, TPHCM, tr. 63-65. 18. Sở Y Tế TPHCM (2023), Sơ Đồ Tổ Chức Ngành Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh, MEDINET-HCMC Mạng thông tin y tế TPHCM, http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/Pages/sdtc-y-tetp.aspx, truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2023. 19. Trần Thiện Thuần (2023), Tâm Lý Học, Nhà xuất bản Y Học. Đại học Y Dược TPHCM, 20. Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (2013), ILO Kêu Gọi Thế Giới Hành Động Đẩy Lùi Bệnh Nghề Nghiệp, http://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/Press releases/WCMS_211709/lang-vi/index.htm, truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2023. 21. Đặng Thị Tốn (2004), “Bệnh Chàm”, trong sách: Bài Giảng Bệnh Da Liêu, Nhà Xuất Bản Y Học, Thành Phố Hồ Chí Minh, tr. 295 – 306. 22. Đào Thị Tú Trinh (2013), Đặc Điểm Lâm Sàng, Các Yếu Tố Liên Quan Và Chất Lượng Cuộc Sống Ở Bệnh Nhân Chàm Bàn Tay, Bàn Chân Tại Bệnh Viện Da Liêu TPHCM, Luận Văn Thạc Sỹ Y Học, Đại Học Y Dược TPHCM, 23. Văn Thế Trung (2013), Chàm Thể Tạng – Những Điểm Mới Về Cơ Chế Sinh Học Và Khuynh Hướng Điều Trị Hiện Nay, Hội Y Học TPHCM, Báo cáo tại hội nghị khoa học thường niên lần 2 năm 2013, Thành Phố Hồ Chí Minh. 24. Lê Tử Vân, Xuyền Khúc (2002), “Bệnh Da Theo Nguyên Nhân Ngành Nghề”, trong sách: Bệnh Da Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr. 75-229. 25. Khúc Xuyền (2002), “Tầm Quan Trọng Của Bệnh Da Nghề Nghiệp”, trong sách: Bệnh Da Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr.

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Nguy Cơ Mắc Bệnh Dại Ở Người Làm Nghề Giết Mổ Chó Và Hiệu Quả Can Thiệp Tại Một Số Quận Huyện Của Thành Phố Hà Nội, 2023 trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!