Xu Hướng 12/2022 # Những Vấn Đề Xoay Quanh Chấn Thương Cơ Gân Kheo / 2023 # Top 18 View | Zqnx.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Những Vấn Đề Xoay Quanh Chấn Thương Cơ Gân Kheo / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Những Vấn Đề Xoay Quanh Chấn Thương Cơ Gân Kheo / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chấn thương cơ gân kheo là gì?

Do đâu bạn bị chấn thương gân kheo?

Chấn thương cơ gân kheo có triệu chứng như thế nào?

Điều trị chấn thương cơ gân khoeo: làm sao mới hiệu quả?

Người bị chấn thương cơ gân kheo có thể hoàn toàn mất đi khả năng vận động linh hoạt nếu tình trạng này không được điều trị kịp thời hoặc chữa trị không hiệu quả.

Cơ gân kheo là một nhóm cơ ở mặt sau đùi, chịu trách nhiệm hỗ trợ cơ thể thực hiện động tác khuỵu gối xuống. Những thói quen rèn luyện thể chất hoặc chơi thể thao không tốt rất dễ khiến nhóm cơ này căng cứng, dẫn đến chấn thương.

Mặc dù chấn thương cơ gân kheo thường có thể tự lành sau một khoảng thời gian nhưng trong vài trường hợp hy hữu, người bệnh vẫn có nguy cơ cao đối mặt với tình trạng mất khả năng hoạt động chân linh hoạt.

Chấn thương cơ gân kheo là gì?

Chấn thương cơ gân kheo xảy ra khi một hoặc nhiều mô cơ tại mặt sau của đùi bị co giãn quá mức hoặc thậm chí là rách. Theo các chuyên gia, mức độ nghiêm trọng của tình trạng này được chia thành ba cấp độ khác nhau, bao gồm:

Cấp độ 1: cơ căng cứng và có dấu hiệu rách nhưng không đáng kể

Cấp độ 2: một phần cơ đã bị rách

Cấp độ 3: rách cơ gân khoeo hoàn toàn, phẫu thuật có thể cần thiết

Do đâu bạn bị chấn thương gân kheo?

Cơ gân kheo dễ bị căng cứng do co giãn mạnh khi bạn tham gia những môn thể thao cần di chuyển liên tục với tốc độ cao, ví dụ như bóng đá hay điền kinh. Nếu tình trạng trên kéo dài, múi cơ rất dễ xuất hiện vết rách, gây nên những cơn đau khó chịu và suy giảm khả năng vận động.

Theo thống kê, ngoài những môn thể thao liệt kê bên trên, vận động viên của những hoạt động thể dục thể thao như cử tạ, khiêu vũ, trượt băng… cũng có nhiều khả năng gặp chấn thương cơ gân kheo. Bên cạnh đó, cả nam lẫn nữ đều có rủi ro rơi vào tình trạng này ngang nhau.

Lớn tuổi: sức khỏe cơ gân kheo suy giảm dần theo thời gian. Do đó, người cao tuổi rất dễ bị chấn thương bộ phận này.

Có tiền sử chấn thương trước đó.

Dây thần kinh ở vùng lưng dưới bị chèn ép.

Vận động với cường độ lớn trong thời gian dài.

Sức khỏe kém, thường xuyên mệt mỏi.

Chấn thương cơ gân kheo có triệu chứng như thế nào?

Đau nhức khó chịu ở mặt sau bắp đùi là dấu hiệu phổ biến nhất. Cường độ đau có thể tăng lên khi bạn tập thể dục hoặc đi lại. Ngoài ra, người bị chấn thương ở cơ gân kheo còn có những biểu hiện như sau:

Căng cứng cơ.

Khu vực chấn thương có thể sưng tấy hoặc bầm tím.

Người bệnh gặp nhiều khó khăn khi co hoặc duỗi thẳng chân.

Điều trị chấn thương cơ gân khoeo: làm sao mới hiệu quả?

Trước khi gặp bác sĩ, bạn có thể áp dụng một số biện pháp để sơ cứu và xoa dịu cơn đau, chẳng hạn như:

Tạm ngưng các hoạt động rèn luyện thể chất, chú trọng việc nghỉ ngơi

Hạn chế sưng bằng cách chườm lạnh, băng bó

Sử dụng thuốc giảm đau kháng viêm không chứa steroid (NSAIDs)

Mặc dù những phương pháp trên sẽ giúp bạn cảm thấy dễ chịu, thoải mái không ít nhưng đừng quên, hiệu quả của chúng chỉ mang tính chất đẩy lui triệu chứng tạm thời chứ không tác động trực tiếp lên chấn thương. Ngoài ra, bạn cũng cần lưu ý uống thuốc NSAIDs theo đúng hướng dẫn sử dụng vì đôi khi loại thuốc này có thể gây hại cho gan, dạ dày và thận.

Để nhanh chóng điều trị tận gốc vấn đề trên, người bệnh nên tìm đến sự giúp đỡ từ các đơn vị chuyên khoa uy tín về cơ xương khớp, chẳng hạn như phòng khám ACC.

Cơ địa, thể trạng sức khỏe cũng như mức độ nghiêm trọng của chấn thương ở từng bệnh nhân không giống nhau. Do đó, mỗi người sẽ cần một liệu trình điều trị riêng biệt. Hiểu rõ nguyên lý này, đội ngũ bác sĩ 100% nước ngoài ở ACC luôn chú trọng việc đánh giá sức khỏe tổng quát của người bệnh trước tiên. Dựa vào đó, bác sĩ sẽ xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả và phù hợp nhất cho người bệnh.

Đối với chấn thương cơ gân kheo, quy trình chữa trị có thể bao gồm:

Các cơn đau nhức khó chịu thuyên giảm dần dần rồi biến mất hoàn toàn.

Đẩy lùi cảm giác căng thẳng và mệt mỏi.

Nâng cao chất lượng giấc ngủ.

Hệ tuần hoàn cũng như miễn dịch được cải thiện, góp phần thúc đẩy cơ chế tự chữa lành thương tổn của cơ thể.

Lấy lại khả năng vận động.

Thêm vào đó, người bệnh còn có khả năng nhận thấy tình trạng sức khỏe của mình có dấu hiệu cải thiện rõ ràng ngay sau lần trị liệu đầu tiên.

Tia laser cường độ cao thế hệ thứ IV kết hợp sóng xung kích Shockwave

Với những trường hợp cơ gân khoeo đã xuất hiện vết rách, bác sĩ ACC có thể chỉ định người bệnh thực hiện thêm liệu trình điều trị bằng sóng xung kích Shockwave và tia laser cường độ cao thế hệ thứ IV. Cả hai đều là những thiết bị tân tiến được từ Hoa Kỳ, có công dụng chữa lành thương tổn, thúc đẩy quá trình phục hồi mô và tế bào, giảm đau cũng như giảm viêm nhanh chóng.

Chuyên Gia Nắn Khớp Xương Hàng Đầu Điều Trị Chấn Thương Gân Kheo &Amp; Các Triệu Chứng Đau Thần Kinh Tọa / 2023

Các vận động viên thường xuyên tham gia vào việc đào tạo và cạnh tranh khắt khe. Mặc dù họ thường xuyên tập thể dục và tập thể dục để ngăn ngừa bị thương tích trong khi thực hiện các hoạt động thể dục thể thao cụ thể, các cử động liên tục và lặp đi lặp lại của cơ thể thường gây ra thiệt hại hoặc thương tích, thậm chí phát sinh tình trạng trầm trọng bất kể quá trình họ làm theo để tránh nguy hiểm. Dây chằng thương tích được nhận ra là thương tích thường xuyên giữa các vận động viên, đặc biệt là do việc sử dụng các chân trong phần lớn các hoạt động thể thao hoặc thể chất.

Chấn thương sọ não thường gặp ở vận động viên và nguy cơ tái chấn thương là khá thường xuyên. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng trong bóng đá Úc, các chấn thương gân kheo là loại phổ biến nhất thể thao chấn thương mà yêu cầu thời gian đi từ cạnh tranh. Các nhà nghiên cứu cũng xác định rằng các chủng cơ thấp cấp xảy ra thường xuyên nhất, tiếp theo là những giọt nước mắt khớp với nồng độ myotendinous. May mắn thay, những điều này đã cho thấy một phản ứng tích cực để phục hồi chức năng bảo thủ. Chảy nhún nhúm là rất hiếm, giống như các vết nứt hoàn chỉnh có nguồn gốc ở gân kheo. Những loại thương tích thể thao như vậy có thể làm suy nhược.

Sự phá vỡ cơ ở dạng nhúm cổ đã được báo cáo thường xuyên hơn ở trẻ dưới tuổi trẻ do một tấm tăng trưởng hình thang không đều ở trẻ sơ sinh và vị thành niên phát hiện thấy trên corticosteroid ở trẻ vị thành niên. Chảy nhú mổ ở người lớn với các chứng côn trùng cơ tim hợp nhất được đóng góp vào sự gãy của gân gân gần gai hoặc các chấn động hột chậu hoàn thiện của nội mạc ngực.

Chẩn đoán ngay lập tức sau các biện pháp điều trị thích hợp cho các cơn nhồi mồi cơ thể hoặc vết rách dây chằng là điều cần thiết tại thời điểm này bởi vì một số cá nhân đã được điều trị không phẫu thuật cho vỡ gân chấn thương đã mất kinh nghiệm dư thừa. Các biến chứng khác của chèn ép gân nheo bao gồm đau, yếu, chuột rút trong quá trình vận động và đau khi ngồi. Giống như phần lớn châm ngạnh, việc điều trị chấn thương càng sớm càng tốt có thể mang lại kết quả tốt hơn là trì hoãn điều trị. Theo nghiên cứu, tiếp nhận điều trị trong vòng bốn tuần sau chấn thương đã dẫn đến kết quả hồi phục tốt hơn so với những kết quả thu được sau 4 tuần bị thương.

Giải phẫu của Hamstring & Chức năng của nó

Các cơ bắp đùi bao gồm các bắp tay đùi, cả hai đầu dài và đầu ngắn, semitendinosus và semimembranosus. Tất cả các cơ này, không bao gồm đầu ngắn của bắp tay, gắn vào nội tạng cơ bắp. Đầu bắp tay ngắn bắt đầu dọc theo xương đùi cùng với dòng aspera.

Tại gốc gần, đầu dài của bắp tay và semitendinosus tạo thành một kết hợp để tạo ra gân mà gắn với các ischial tuberosity và semimembranosus.

Khi một cá thể trải qua tuổi dậy thì, một trung tâm gia vị thứ phát tại chỗ bọc ngoài cơ thể phát triển mà không cần nung chảy cho đến khi thanh thiếu niên muộn hoặc đầu những năm 20 tuổi. Trong khoảng thời gian giữa sự kết hợp của hiện tượng ngưng thở, sự kéo lực kéo mạnh có thể gây ra một sự châm ngòi cho gân nheo dọc theo kết mạc do kết nối yếu giữa xương và cơ. Sau khi xương bắt đầu trưởng thành, thương tích ở ngã ba myotendinous trở nên phổ biến hơn.

Do cơ cấu giải phẫu của gân kheo, những người này có thể dễ bị tổn thương hoặc chấn thương ở những vùng mà cơ và các mô khác vượt qua cả hông và đầu gối, chủ yếu do đòn bẩy lớn để hoạt động với hông trong khi vận động.

Cơ chế thương tật phổ biến nhất bao gồm việc buộc đầu gối buộc phải ở vị trí hông khi cơ được đặt dưới một tải trọng lớn và nhanh. Lực lượng được tiến hành đến ngã ba myotendinous. Điều này thường dẫn đến kết quả từ một bước nhảy đột ngột và mạnh mẽ từ bước nhảy nơi đầu gối bị khóa trong phần mở rộng, trong khi tiếp xúc chân trong khi chạy nước rút hoặc khi hông bị uốn cong quá nhiều và không kiểm soát, chẳng hạn như khi chân trượt ra từ bên dưới cơ thể và di chuyển đến chỗ hông với đầu gối mở rộng trong các hoạt động thể thao hoặc thể thao như phân chia tiếp, trượt tuyết nước và cưỡi ngựa.

Sự thoái hóa của gân xảy ra trong suốt quá trình thay đổi giải phẫu học và sinh hóa trong mô của gân. Các sợi collagen trở nên không tổ chức, sự thay đổi của ma trận trong tế bào, các tế bào cystic phát triển trong gân và tăng áp lực trong dây chằng trở nên hiện diện. Căng thẳng và lực nén đang được áp dụng chống lại cơ thể thường có thể tạo ra những hiệu ứng thoái hoá này. Các lực căng thẳng xuất hiện như là một kết quả của một lực đẩy nhanh chóng, bất thường chống lại gân gân gai khi xương hông bị cong nhanh. Các lực nén xảy ra khi lớp giải phẫu đơn cực của xương cột vây xung quanh ép vào gân và tạo ra một vùng ảnh hưởng. Lực căng và lực nén kéo dài và liên tục dần dần thoái hóa, cuối cùng trở nên yếu hơn và vỡ.

Hơn nữa, do sự gần gũi của cơ bắp đùi với thần kinh săng quyển mà chạy xuống mỗi chân từ lưng dưới, sự chọc thủng dây chằng có thể ảnh hưởng đến dây thần kinh quan trọng này. Do đó, viêm và sưng do chấn thương cơ bắp đùi và các mô xung quanh khác có thể làm giảm dây thần kinh sẹo, dẫn tới các triệu chứng đau thần kinh tọa. Rối loạn thần kinh thường được gọi là một loạt các triệu chứng thay vì một thương tích và tình trạng. Vì vậy, các vận động viên với avulsions gân kheo có thể thêm các triệu chứng của đau thần kinh tọa.

Các vận động viên bị ảnh hưởng phải tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức không chỉ để có hiệu quả xử lý chấn thương gân chít mà còn để xác định sự có mặt của thần kinh cột sống và chẩn đoán chính xác liệu một loại chấn thương hoặc tình trạng cơ bản có thể gây ra đau thần kinh sẹo bên cạnh sự gãy gân chấn thương.

Khi vận động viên bị ảnh hưởng đến thăm một chuyên gia y tế, như bác sĩ chỉnh hình, chuyên gia trị liệu vật lý hoặc chuyên gia khác, khi kiểm tra, có thể cảm thấy khuyết điểm rõ ràng bên dưới khiếm khuyết cơ thể và có thể quan sát thấy đường viền của đường gân. Tuy nhiên, những chất này thường phụ thuộc vào kích cỡ của các lớp gluteals và bất kỳ mô mỡ nào can thiệp có thể làm cho việc đánh bóng và hình dung trực tiếp khó khăn. Các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ thường mô tả một sự đổi màu đáng kể trên cơ thể gân cổ một vài ngày sau khi thương tích xảy ra.

Đánh giá thêm về vận động viên với chùy nhúm cho thấy sự yếu đi trong cả hai gập đầu gối bị cô lập và mở rộng hông giữa hai bên cùng với báo cáo đau. Phạm vi chuyển động của cá nhân bị hạn chế rất nhiều do các triệu chứng và đi bộ với một sự khập khiễng có thể là phổ biến vì họ có thể không thể chịu được trọng lượng thông qua các cơ bị thương.

Hình ảnh

Chụp X-quang cơ bản và chụp cắt lớp CT sẽ không mang lại kết quả có lợi trừ khi sự châm ngòi cổ châm bắt đầu từ sự bốc mùi cơ.

Hình ảnh siêu âm có thể hữu ích, tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn về độ nhạy và độ đặc hiệu của nó đòi hỏi nhiều nghiên cứu hơn.

MRI là phương pháp được ưa thích hơn khi nghi ngờ hiện tượng vỡ gân chồn vì các chi tiết của mô mềm được hiển thị tốt trên MRI, làm nổi bật mức độ co rút của gân cũng như bất kỳ sự can thiệp nào với dây thần kinh sẹo. Hơn nữa, MRI có thể được sử dụng trong tất cả các giai đoạn phục hồi để đánh giá khả năng chữa bệnh của gân.

Điều trị & Chăm sóc Tổn thương gân kheo

Các thủ tục điều trị chấn thương gân chậu từ lâu đã được coi là gây tranh cãi, cho dù họ có hiệu quả sửa chữa hoặc không sửa chữa thiệt hại hoặc thương tích. Một số lượng lớn các tiêu chí đã được đề xuất để giúp các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ, chẳng hạn như bác sĩ trị liệu nắn khớp xương và các nhà trị liệu vật lý, cùng với những người khác để giúp xác định xem các vận động viên có bị chấn thương gân kheo có thể cần phẫu thuật hay không.

Thứ nhất, nhịp xoang phải có nhiều hơn một cm rút 2. Thứ hai, phải có nước mắt hoàn hảo trong tất cả các gân 3 có hoặc không rút lại, và cuối cùng, một phần nước mắt báo cáo đau đớn và triệu chứng mặc dù điều trị bảo thủ kéo dài, là một số tiêu chí mà một cá nhân phải đáp ứng để báo hiệu sự cần thiết cho phẫu thuật.

Tuy nhiên, một số vết nứt gãy phần hoặc toàn bộ thường đòi hỏi một số hình thức điều trị phẫu thuật trong số đại đa số các vận động viên, chủ yếu là do những lo ngại về mất mát dư thừa sức mạnh và sức mạnh.

Trường hợp vết rách cổ phần một phần có thể cần điều trị vẫn còn chưa rõ ràng. Trong một số trường hợp, các vết nứt cục bộ có thể phục hồi một cách hợp lý thông qua các thủ tục bảo thủ nhưng nếu đau và các triệu chứng khác tiếp tục sau một thời gian dài phục hồi, sau đó sửa chữa vết vỡ một phần thông qua các biện pháp phẫu thuật có thể dẫn đến những kết quả tích cực.

Can thiệp phẫu thuật cho Răng Hắt

Đoạn cuối của gân gần đầu trên cơ thể cùi sau đó được định vị, cũng giống như gân rút lại, và chúng sẽ được đặt gần với đầu gối để giảm căng gân. Sau đó, chúng sẽ được sửa chữa bằng các khâu của Ethibond và băng Merselene. Nếu dây chằng đã được cắt xén, thì nó sẽ được neo với một ốc vít tự titan.

Sự ổn định của việc sửa chữa phẫu thuật được đánh giá bằng cách uốn cong một cách thụ động độ 45 đầu gối để tạo ra sự căng thẳng trong cơ và gân. Điều này cho phép chuyên gia phân tích sự an toàn của từng cá nhân trong chuyển động trong suốt quá trình phẫu thuật để các bài tập phục hồi chức năng và trải nghiệm có thể sớm trong phạm vi an toàn. Hơn nữa, điều này sẽ tránh được việc kéo dài thời gian cố định, dẫn đến chứng teo cũng như mất sức mạnh và các vết cắt gân sau phẫu thuật.

Nếu chấn thương gân nheo được điều trị hiệu quả sớm, cần phải có nẹp gối gối sau phẫu thuật nói chung là không cần thiết, nhưng nếu phẫu thuật đã bị trì hoãn thì cần phải có khớp gối gối gối sau phẫu thuật.

Một số nghiên cứu đã cố gắng sửa chữa nội soi chấn thương gân nheo, cho biết thủ thuật này có thể mang lại nhiều lợi ích hơn, như giảm thiểu mô sẹo, hình dung rõ hơn gân dây chằng gân, giảm lượng máu chảy và bảo vệ tốt hơn bó mạch thần kinh.

Kết quả sau phẫu thuật

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng trong số những người có gân dây chằng bị gãy xương đã được sửa chữa thông qua các quy trình phẫu thuật, 80 phần trăm họ trở lại tham gia vào các mức độ trước khi bị thương trong các hoạt động thể thao hoặc thể dục thể thao. Hơn nữa, cường độ thắt lưng gân của cá nhân quay trở lại trung bình 84 phần trăm trong khi sức chịu đựng gân kheo trở lại trung bình 89 phần trăm. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng 90 phần trăm chấn thương gân chậu họ theo đã trở lại với mức độ tổn thương trước khi chơi thể thao hoặc hoạt động thể chất. Tất cả những kết quả xuất sắc này được báo cáo trong các bài kiểm tra về chức năng và kiểm tra isokinetic cho thấy sức mạnh của gân dây chằng quay trở lại 83 phần trăm trong 6 tháng so với 56 phần trăm ở mức độ trước phẫu thuật. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu báo cáo kết quả đánh giá của bảy cá nhân đã trải qua phẫu thuật sửa chữa và kết luận rằng thời gian trung bình họ có kinh nghiệm phục hồi chức năng là 8.5 tháng. Bởi sáu tháng của thủ tục khai thác cảng, sáu trong bảy cá nhân đã trở lại mức chức năng trước khi hoạt động.

Để biết thêm thông tin, vui lòng yêu cầu Tiến sĩ Jimenez hoặc liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ 915-850-0900 .

Được lấy từ chúng tôi từ: www.elpasobackclinic.com

Bởi Tiến sĩ Alex Jimenez

Xuất Huyết Tiền Phòng Do Chấn Thương / 2023

Xuất huyết tiền phòng là một biểu hiện thường gặp của chấn thương đụng giập. Đa số các trường hợp, máu tự tiêu đi. Nhưng có một số trường hợp có thể xuất hiện biến chứng. Vì có thể có biến chứng nên xuất huyết tiền phòng cần được theo dõi cẩn thận.

Sinh lý bệnh.

– Cơ chế chấn thương.

Chấn thương đụng giập gây căng giãn các tổ chức ở vùng rìa, căng giãn củng mạc ở vùng xích đạo, màn chắn mống mắt thể thủy tinh bị dị lệch về phía sau, nhãn áp tăng cao, tổ chức ở gần góc tiền phòng bị xé rách. Hầu hết các xuất huyết tiền phòng là do rách mặt trước thể mi gây vỡ vòng động mạch lớn, các nhánh hắc mạc hồi quy hoặc các tĩnh mạch thể mi. Xấp xỉ 15% xuất huyết tiền phòng là do vỡ các động mạch mống mắt, bong thể mi hay đứt chân mống mắt.

Hình 22.5. Lực ép lên nhãn cầu gây vỡ mạch và xuất huyết tiền phòng.

Các dấu hiệu ở mắt khác kèm theo

– Viêm mống mắt do chấn thương đôi khi xảy ra trong xuất huyết tiền phòng.

Sắc tố từ mống mắt tan rã ra có thể rải rác trên nội mô giác mạc và phủ lên vùng bè. Có khi có teo mống mắt và vòng Vossius (biểu mô sắc tố ở vùng đồng tử bị ép dính lên mặt trước thể thủy tinh).

– Đôi khi có giãn đồng tử do đứt cơ co đồng tử. Ngược lại, nếu đồng tử co thì phải cẩn thận kiểm tra xem có viêm mống mắt đi kèm hay không. Có thể có đứt chần mống mắt. Thường có trợt biểu mô giác mạc trong chấn thương đụng giập, cần lưu ý xem có vỡ nhãn cầu đi kèm xuất huyết tiền phòng hay không. Vỡ nhãn cầu hay xảy ra ở vùng rìa giác củng mạc (vết rách song song với xích đạo) hay ở đầu các cơ trực (vết rách vuông góc với vùng rìa), khi đó thường đi kèm với các dấu hiệu khác như phù nề kết mạc, xuất huyết dưới kết mạc, tiền phòng sâu, nhãn áp hạ, soi đáy mắt thấy mép vết rách củng mạc. Nội mô giác mạc có thể bị tổn thương từ mức độ phù nề cho đến mức độ thấm máu (nhất là khi nhãn áp tăng cao). Thể thủy tinh có thể bị đục hay bị lệch.

Các tổn thương ở bán phần sau thường là nguyên nhân chính gây ra giảm thị lực sau khi máu tiền phòng đã tiêu hết. Có thể xuất huyết dịch kính, phù võng mạc, lỗ rách võng mạc, xuất huyết võng mạc hay rách hắc mạc. Teo thị thần kinh có thể là hậu quả của chấn thương hay tăng nhãn áp.

Máu chảy ra từ một mạch máu bị vỡ được cầm là do áp lực nội nhãn, co mạch, và hiện tượng tạo nút fibrin/tiểu cầu.

Cục máu đông trong tiền phòng được bao bọc trong một màng, màng này dính chặt vào các tổ chức xung quanh. Máu đông có thể đóng khuôn lại thành một khối hai thuỳ, một thuỳ nằm ở ngoài tiền phòng, một thuỳ nằm ở hậu phòng.

Cục máu đông thường ổn định sau 4-7 ngày.

Thủy dịch có khả năng làm tan rã cục máu đông rất cao. Plasminogen được chuyển thành plasmin có tác dụng làm tan rã cục máu đông.

Các hồng cầu tự do và các sản phẩm thoái hoá từ fibrin thoát ra ngoài qua vùng bè. Mống mắt có khả năng hấp thụ ít.

Cần loại trừ khả năng có vỡ nhãn cầu.

Để tiện so sánh giữa các lần khám với nhau, cần phải mô tả một cách chi tiết, sử dụng milimét để mô tả độ cao của xuất huyết hay mô tả xuất huyết chiếm bao nhiêu phần trăm của tiền phòng hay xuất huyết đi từ mấy giờ đến mấy giờ. cần phân biệt phần có cục máu đông với phần không có cục máu đông.

Các hồng cầu tự do được định lượng bằng ký hiệu 1+ đến 4 +. Khám cẩn thận có thể xác định được vị trí chảy máu. Đánh giá xuất huyết tái phát bằng cách dựa vào có một lốp màu đỏ tươi phủ trên một cục máu đông màu đỏ xẫm và máu tiền phòng nhiều lên.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Nếu có tiền sử chảy máu kéo dài cần xét nghiệm chức năng gan, thời gian thromboplastin từng phần, số lượng tiểu cầu, thời gian máu chảy – máu đông.

Điều trị nội trú hay điều trị ngoại trú

– Điều trị nội trú có ưu điểm là theo dõi được dễ dàng, phát hiện sớm các biến chứng, theo dõi được chế độ thực hiện y lệnh nhưng giá thành cao.

Hiện nay chưa có nghiên cứu nào nêu rõ sự khác biệt giữa điều trị nội trú với điều trị ngoại trú.

– Phương pháp điều trị hỗ trợ.

Có tác giả cho rằng cần băng kín hai mắt và bất động tại giường. Theo nhiều người không có khác biệt về kết quả lâm sàng giữa bất động hoàn toàn tại giường với vận động nhẹ nhàng. Băng cả hai mắt chỉ làm cho bệnh nhân thêm lo lắng, đặc biệt là rất bất tiện với trẻ nhỏ. Không nhất thiết phải hạn chế đọc sách.

Dùng thuốc an thần nhẹ. Bệnh nhân nằm đầu cao 30o để cho máu lắng xuống dưới, quan sát đáy mắt được dễ dàng hơn.

– Điều trị bằng thuốc:

Dùng thuốc co đồng tử, thuốc giãn đồng tử liệt thể mi, các thuốc làm tiêu sợi fibrin, estrogen, corticosteroid và nhiều loại thuốc khác, nhưng kết quả mang lại rất khác nhau theo quan điểm của mỗi tác giả.

– Các thuốc liệt thể mi và các thuốc gây co đồng tử.

Tra thuốc giãn đồng tử liệt thể mi làm cho bệnh nhân dễ chịu hơn nhất là khi có viêm mống mắt, giúp cho khám đáy mắt được dễ dàng hơn. Không nên tra thuốc co đồng tử vì nguy cơ làm viêm mống mắt nặng thêm.

– Các steroid

Tra steroid tại chỗ có tác dụng làm nhẹ bơt khó chịu do viêm mống mắt gây ra. về việc sử dụng steroid toàn thân thì có nhiều quan điểm khác nhau.

Một số tác giả thì cho rằng steroid toàn thân có tác dụng làm ổn định cục máu đông, tránh nguy cơ chảy máu trở lại. Theo nhiều người thì lại cho rằng kết quả điều trị mang lại không rõ ràng, vì steroid dùng đường toàn thân có nhiều biến chứng nên để dành cho những trường hợp đặc biệt thì hơn.

– Các thuốc chống tiêu sợi fibrin.

Các thuốc chống tiêu sợi fibrin như aminocaproid acid, tranexamic được đưa vào điều trị do có tác dụng chống chảy máu tái phát. Vì thủy dịch có tác dụng tiêu cục fibrin càng lâu, mạch máu bị tổn thương càng có thời gian để liền sẹo.

+ Aminocaproic acid (Amicar) là chất ức chế cạnh tranh với chất chuyển plasminogen

Các thuốc chống tiêu fibrin loại tra mắt: Có tác giả cho rằng nên sử dụng aminocaproic loại tra mắt để làm giảm nguy cơ chảy máu tái phát (vốh hay xảy ra nếu dùng thuốc đường toàn thân).

+ Các thuốc tiêu fibrin. Hiện nay có nhiều người quan tâm đến thuốc hoạt hoá plasminogen tổ chức để điều trị xuất huyết tiền phòng và xuất huyết dịch kính. Thuốc này có thể được chỉ định khi có máu cục lớn trong tiền phòng dễ gây bít góc tiền phòng hay thấm máu giác mạc.

– Phẫu thuật điều trị xuất huyết tiền phòng do chấn thương.

+ Chỉ định can thiệp phẫu thuật:

Máu cục lâu ngày mà không tiêu: Nếu máu cục lớn tồn tại quá 10 ngày mà không tiêu, có nguy cơ tạo dính góc tiền phòng thì cần phẫu thuật. Nếu máu quá nhiều chiếm toàn bộ tiền phòng không tiến triển sau 5 ngày thì cần phải phẫu thuật tháò máu.

+ Các kỹ thuật can thiệp phẫu thuật

Mở tiền phòng và rửa tiền phòng: Đây là cách đơn giản nhất và an toàn nhất hay được áp dụng. Có thể lấy sạch máu và làm hạ nhãn áp với cách này. Nếu chảy máu tái phát hay nhãn áp tăng thì có thể mổ lại dễ dàng.

Một bên đưa kim dẫn nước muối sinh lý vào trong tiền phòng, bên kia dùng phanh ấn nhẹ lên mép đường rạch kia để cho máu thoát ra. C- Nếu làm như vậy mà không lấy được sạch máu thì mở rộng một đường rạch để đưa đầu máy cắt dịch kính (sử dụng chế độ rửa hút) vào. D- Còn sót ít máu không cần phải lấy hết. Khâu đóng lại hai đường mở giác mạc.

Cắt máu cục trong tiền phòng bằng đầu máy cắt dịch kính: Có thể áp dụng phương pháp này khi kỹ thuật rửa tiền phòng qua hai đường rạch bị thất bại, hay khi có chảy máu nhiều trong lúc phẫu thuật. Máu chảy ra được liên tục và hút ra cho tới mức tự nó cầm lại. Có thể nâng cao chai dịch truyền lên để nâng cao nhãn áp có tác dụng cầm máu. Nếu mắt không còn thể thủy tinh hay có mang thể thủy tinh nhân tạo thì có thể phối hợp với điện đông cầm máu. Nếu tổn thương quá nặng bao gồm cả mống mắt, thể thủy tinh và dịch kính thì sử dụng đầu máy cắt dịch kính để vừa lấy máu, vừa cắt mống mắt – thể thủy tinh – dịch kính. Vì rạch trên giác mạc được tôn trọng, có thể phẫu thuật lỗ rò sau này khi cần thiết.

– Biến chứng của xuất huyết tiền phòng.

+ Chảy máu tái phát.

Chảy máu thứ phát là do cục máu đông tiêu đi quá sớm trước khi vết thương thành mạch liền sẹo. Chảy máu tái phát thường có tiên lượng xấu vì nguy cơ tăng nhãn áp rất cao, thấm máu giác mạc hay dính góc tiền phòng. Dùng nhiều aspirin cũng có thể là nguyên nhân gây chảy máu tái phát. Thái độ xử lý tuỳ thuộc vào nhãn áp, có thấm máu giác mạc hay không.

+ Glôcôm

Nhãn áp tăng có thể xuất hiện sớm hay muộn. Nhãn áp tăng có thể là do hồng cầu, tiểu cầu, fibrin gây bít góc tiền phòng hay do chấn thương gây tổn hại hệ thống ống dẫn thủy tinh ống dẫn thủy dịch, cần lưu ý dùng nhiều cortison cũng là nguyên nhân gây tăng nhãn áp. Người trẻ có khả năng chịu đựng được nhãn áp cao lâu hơn mà không mà không sợ nguy cơ gây tổn hại thị thần kinh. Điều trị nội khoa bằng thuốc tra mắt kháng cảm thụ bêta (tra timolol maleat 0,5% 2 lần/ngày) và kháng men carbonic anhydrase (uống acetazolamid 250mg mg 4 lần /ngày). Nếu cần sử dụng thuốc ưu trương (uống glyceron 2ml/kg hay truyền tĩnh mạch dung dịch mannitol 20%, 2ml / kg trong 30 phút). Có thể phẫu thuật nếu điều trị nội khoa không có kết quả.

Nếu nhãn áp tăng xuất hiện muộn, có thể là do dính sau gây mống mắt và gây hình múi cà chua, glôcôm do tế bào khổng lồ làm bít góc tiền phòng hay do lùi góc tiền phòng Điều trị sẽ được bàn đến sau.

+ Thấm máu giác mạc.

Thấm máu giác mạc thường xuất hiện trong xuất huyết tiền phòng nhiều, cục máu đông trong tiền phòng lâu ngày, nhãn áp tăng hay nội mô giác mạc bị tổn thương. Hình ảnh giải phẫu bệnh cho thấy các sản phẩm thoái hoá của hồng cầu và hemosiderin thấm vào các giác mạc bào. Khám lâm sàng thấy có những hạt nhỏ màu vàng trong nhu mô giác mạc phía sau, không thấy rõ cấu trúc dạng sợi của nhu mô khi để đèn ở độ phóng đại cao. Nếu thấy có thấm máu giác mạc, cần chỉ định tháo máu và rửa tiền phòng. Nói chung thấm máu giác mạc thường tự lui sau nhiều tháng hay nhiều năm mà không cần phải ghép giác mạc. Giác mạc trong gần từ chu biên vào trung tâm. Ghép giác mạc sớm được chỉ định với nhóm có nguy cơ nhược thị hoặc với một số trường hợp đặc biệt.

Triệu Chứng Của Viêm Gân Chóp Xoay, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Điều Trị Viêm Gân Chóp Xoay / 2023

Chóp xoay khớp vai bao gồm các gân cơ cánh tay và cơ vai bám vào đầu trên xương cánh tay. Các gân cơ bám chắc và giao thoa với nhau thành gân chóp xoay, có chức năng giữ vững khớp vai. Chính điều này giúp cho khớp vai có tầm vận động lớn nhất. Khớp vai cũng là khớp được sử dụng nhiều trong suốt đời người, cũng chính vậy làm cho chóp xoay dễ bị tổn thương nhất. Tổn thương chóp xoay thường gặp nhiều nhất ở những người phải vận động khớp vai thường xuyên, nhất là trong trường hợp có các động tác lặp đi lặp lại đưa tay lên quá đầu trong công việc hàng ngày hoặc chơi thể thao (thợ sơn, thợ mộc, vẽ tranh tường, chơi bóng gậy, bóng chày, quần vợt, cầu lông, bóng ném) hoặc có tiền sử mang vác nặng, hoạt động quá mức của khớp vai…, gân khớp vai rất dễ bị tổn thương, kích thích gây phản ứng viêm. Ngoài ra, tổn thương chóp xoay khớp vai có thể gặp phải khi người bệnh nằm nghiêng lên phía đau khi ngủ, chấn thương do té ngã, đụng dập hay khi các gai xương hoặc một phần xương bả vai to trồi lên gây kích thích viêm gân chóp xoay.

Các loại tổn thương có thể gặp của chóp xoay là:

Viêm gân chóp xoay vai thường là cấp tính, có thể kèm theo lắng đọng canxi tại gân;

Chèn ép gân thường là mạn tính, do gân chóp xoay bị kẹt giữa xương vai và chỏm xương cánh tay hoặc do gai xương ở mặt dưới mỏm cùng, dẫn đến rách tưa sợi gân, làm cho gân bị yếu và dễ đứt;

Rách gân ở nhiều mức độ khác nhau, do té ngã hoặc tai nạn hoặc do hậu quả của chèn ép gân, nhất là ở người già.

Hầu hết người bệnh có vấn đề về gân cơ chóp xoay có thể điều trị thành công bằng việc nghỉ ngơi kết hợp với thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm, tập vật lý trị liệu, tiêm corticoid vào khớp. Một số trường hợp cần phải can thiệp phẫu thuật mới có thể điều trị triệt để.

Bạn nên duy trì các thói quen sinh hoạt sau để hạn chế diễn tiến đau gân chóp xoay:

Đôi khi tất cả những gì bạn cần làm là nghỉ ngơi hợp lý.

Dùng thuốc và luyện tập theo đúng chỉ dẫn của bác sỹ;

Cố gắng tránh làm việc bằng tay đang bị bệnh;

Gọi bác sĩ nếu cơn đau khiến bạn mất ngủ và không thể kiểm soát bằng thuốc

Khi bệnh nhân đi khám bệnh các bác sĩ sẽ làm một số nghiệm pháp khám đặc biệt để phát hiện gân bị viêm hay rách, đánh giá mức độ tổn thương. Đồng thời bệnh nhân sẽ được chỉ định làm 1 số các xét nghiệm cận lâm sàng như: chụp X quang, siêu âm, MRI, đo điện cơ,… để xác định nguyên nhân của viêm chóp xoay khớp vai cũng như loại trừ những khả năng khác cũng làm đau khớp tương tự như rách, đứt gân, chèn ép…

X-quang: cho thấy các gai xương và vôi hóa trong gân.

Siêu âm: thấy rõ cấu trúc, nhất là phần mô mềm như gân, cơ.

Chụp cộng hưởng từ (MRI): phát hiện rất tốt các vấn đề của cả xương và mô mềm.

Mục tiêu của việc điều trị là giảm đau và phục hồi chức năng khớp vai. Tùy thuộc vào mức độ triệu chứng, tình trạng viêm hay rách chóp xoay, tuổi và nhu cầu vận động của bệnh nhân mà sẽ có từng chiến lược điều trị khác nhau.

Điều trị không phẫu thuật: sẽ được ưu tiên áp dụng trong phần lớn các trường hợp, chỉ khi các biện pháp này không đạt kết quả người ta mới cân nhắc đến việc điều trị bằng phương pháp phẫu thuật. Thời gian điều trị theo phương pháp này thường kéo dài từ vài tuần cho đến vài tháng. Các biện pháp cụ thể gồm có

Nghỉ ngơi: BS sẽ yêu cầu bệnh nhân tăng cường nghỉ ngơi, hạn chế việc thực hiện các động tác giơ tay cao quá đầu, thay đổi công việc hiện tại nếu công việc buộc phải thực hiện nhiều những động tác trên.

Áp dụng các bài tập vật lý trị trị liệu phù hợp sẽ giúp khôi phục biên độ vận động và tăng cường sức mạnh cho khớp vai. Chườm lạnh lên chỗ đau sẽ giúp giảm đau trong các cơn đau cấp

Dùng các thuốc kháng viêm, giảm đau loại non-Steroid và thuốc giãn cơ: giúp làm giảm đau, giảm sưng khớp vai. Tuy nhiên, thuốc này có thể gây đau dạ dày, xuất huyết. Vì thế cần thận trọng và căn dặn bệnh nhân thật cẩn thận trước khi dùng thuốc cho bệnh nhân.

Những trường hợp phản ứng viêm dữ dội, vùng da quanh khớp sưng nóng, ửng đỏ, bệnh nhân đau nhiều, thuốc giảm đau đường toàn thân không hiệu quả thì có thể sử dụng đến liệu pháp tiêm corticoid vào khớp, có thể tiêm lặp lại sau 4 – 6 tháng nếu đáp ứng tốt. Đây là 1 thủ thuật rất hữu ích cho việc điều trị nhưng cần phải thực hiện hết sức thận trọng, việc chỉ định cũng cần hết sức chặt chẽ vì:

Corticoid là 1 thuốc có rất nhiều tác dụng không mong muốn nên việc chỉ định cần hết sức thận trọng.

Việc tiêm corticoid nội khớp có thể làm yếu gân và làm chậm quá trình lành gân

Việc tiêm corticoid trực tiếp vào khớp nói chung cần được thực hiện cẩn thận trong môi trường vô trùng và được thực hiện bởi bác sĩ được đào tạo bài bản về tiêm nội khớp vì nếu bị nhiễm trùng, tràn máu vào ổ khớp sẽ rất tai hại, khớp vai có nguy cơ mất chức năng vĩnh viễn.

Điều trị bằng huyết tương giàu tiểu cầu trong viêm chóp xoay khớp vai: cũng đã được ứng dụng và ghi nhận nhiều kết quả khả quan. Huyết tương giàu tiểu cầu được chiết xuất từ chính máu của người bệnh, Nguyên lý điều trị này dựa trên chức năng của tiểu cầu là có khả năng giải phóng các yếu tố tăng trưởng và các phân tử sinh học để kích thích tốc độ và khả năng phục hồi tại chỗ của mô tế bào. Đây vốn dĩ là một quá trình tự nhiên của cơ thể, khi các mô bị viêm, chấn thương, đụng dập. Phương thức điều trị này có tính an toàn tương đối cao do lấy máu tự thân, loại trừ được khả năng bị lây nhiễm bệnh, không dị ứng và không gặp nguy cơ không tương thích. Đồng thời, loại thuốc sinh học này còn kích thích phục hồi các mô tế bào bị tổn thương và tái tạo, tăng hồi phục về mặt chức năng, vận động của khớp vai, làm cho thời gian phục hồi ngắn hơn, chất lượng cuộc sống của người bệnh mau chóng về lại như bình thường.

Điều trị phẫu thuật

Nói chung, hầu hết người bệnh sẽ cải thiện chức năng bằng việc nghỉ ngơi kết hợp với thuốc giảm đau, kháng viêm, giãn cơ, tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năng. Nếu các biện pháp điều trị không phấu thuật không đạt hiệu quả, bác sỹ sẽ chỉ định phẫu thuật để lấy bỏ gai xương, sửa chữa khôi phục gân, chuyển gân, thay thế gân, làm rộng khoang dưới mỏm cùng (tạo hình mỏm cùng vai), khâu lại gân chóp xoay… Với sự tiến bộ của y học ngày nay, các phẫu thuật này hầu như đều có thể thực hiện hoàn toàn qua ngả nội soi, giảm thiểu tình trạng tổn thương cơ xung quanh, rút ngắn đáng kể thời gian hồi phục.

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng viêm hay đứt chóp xoay, bao gồm lớn tuổi gây thoái hóa gân, tình trạng thiếu máu nuôi gân và do sử dụng quá mức khớp vai.

Viêm chóp xoay có thể gặp ở cả các vận động viên trẻ tuổi lẫn những những người bình thường ở độ tuổi trung niên. Các vận động viên bơi lội, bóng chuyền, tennis … là những đối tượng dễ mắc các tổn thương loại này.

Những người làm cồng việc phải thường xuyên giơ tay cao quá đầu, động tác lặp lại nhiều lần như thợ sơn, thợ xây, thợ mộc cũng dê mắc bệnh này.

Viêm chóp xoay cũng có khi là do 1 chấn thương nhẹ vùng vai gây ra:

Té ngã chống tay hoặc ngã đè lên tay làm đụng dập hay rách gân cơ chóp xoay

Nâng một đồ vật nặng hay đưa tay lên quá đầu không đúng tư thế.

Tổn thương lặp đi lặp lại của gân cơ chóp xoay dẫn đến viêm, rách…

Các gai xương hoặc một phần xương bả vai to trồi lên gây kích thích và làm tổn thương gân chóp xoay.

Bệnh hay xảy ra ở những người tuổi trên 40 (ước tính có khoảng từ 15-40% những người trên 40 bị bệnh này) và triệu chứng đầu tiên luôn là đau ở vùng vai. Cơn đau có đặc điểm:

Đau âm ỉ sâu trong vai, lan lên tới cổ (làm dễ chẩn đoán làm với thoái hóa cột sống cổ), hoặc lan xuống cánh tay nhưng không vượt quá vùng khuỷu tay.

Giai đoạn đầu, đau ở mức độ nhẹ cả khi vận động lẫn khi nghỉ ngơi. Về sau dau thường xuất hiện vào đêm khuya, sau một ngày làm việc vất vả và khiến bệnh nhân mất ngủ, nhất là khi nằm nghiêng bên vai bị đau.

Ban đầu thường là đau đột ngột khi với tay lấy đồ, nâng vật nặng hoặc khi vận động mạnh (như chơi thể thao). Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng nặng dần lên, bệnh có cảm giác yếu, mỏi cánh tay khi nhấc tay và khi làm việc với cánh tay tư thế dạng, khiến người bệnh khó thực hiện được những việc như chải đầu, khó mặc áo hay đưa tay ra phía sau đầu.

Cảm thấy đau khi đẩy đồ vật ra xa bằng tay nhưng kéo lại thì thường không đau.

Bệnh lâu ngày dẫn tới rách lớn chóp xoay làm bệnh nhân cử động vai khó khăn, đặc biệt khi dang tay lên tới đầu, rách nặng hơn làm bệnh nhân không giơ tay lên được, hoặc khi giơ tay lên được thì khi hạ xuống, tay sẽ bị rớt đột ngột mà không thể giữ lại được.

Khi thăm khám, bác sĩ sẽ kiểm tra vận động khớp vai ở nhiều tư thế và góc độ khác nhau. Vận động thụ động chóp xoay khớp vai sẽ hạn chế biên độ do đau tại những góc và vị trí nhất định. Một số dấu hiệu đặc trưng có thể bắt gặp gồm:

Trong viêm gân chóp xoay vai, bệnh nhân đau nhất khi cánh tay dạng ra 1 góc từ 70 – 120 độ so với thân người;

Trong rách gân chóp xoay, bác sĩ đưa cánh tay người bệnh ra xa thân mình và nâng về phía đầu, rồi hạ cánh tay xuống từ từ đến khoảng 90 độ, nhưng khi xuống thấp hơn nữa thì cánh tay rơi xuống nhanh chóng do gân đã bị rách (nghiệm pháp rơi cánh tay).

Biến chứng bệnh viêm gân chóp xoay

Khớp vai cần được nghỉ ngơi, hạn chế vận động để tổn thương có thời gian hồi phục. Tuy nhiên, bất động vai kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng mô liên kết quanh khớp dày lên và khớp vai bị bó chặt, làm hạn chế vận động, lâu dần dẫn đến cứng khớp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Vấn Đề Xoay Quanh Chấn Thương Cơ Gân Kheo / 2023 trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!