Xu Hướng 2/2023 # Nguyên Nhân Gây Lao Da Và Mô Dưới Da, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Lao Da Và Mô Dưới Da # Top 9 View | Zqnx.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nguyên Nhân Gây Lao Da Và Mô Dưới Da, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Lao Da Và Mô Dưới Da # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Nguyên Nhân Gây Lao Da Và Mô Dưới Da, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Lao Da Và Mô Dưới Da được cập nhật mới nhất trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bệnh lao da không phải là tình trạng tổn thương đơn thuần khu trú tại da mà là một bệnh lý toàn thân do vi khuẩn lao gây ra. Ở những bệnh nhân mắc bệnh lao da, người ta ghi nhận được khoảng từ 3-40% các trường hợp mắc lao hạch và 25-30% các trường hợp mắc lao phổi kèm theo, hiếm gặp hơn là lao sinh dục.

Lao da là một bệnh lao ngoài phổi có biểu hiện phong phú, thay đổi tùy thuộc vào độc lực, số lượng của trực khuẩn lao và sức đề kháng của cơ thể bệnh nhân.

Lao da được chia thành 2 nhóm:

Lao da thực sự: bao gồm lupus thông thư­ờng hoặc lupus lao, lao hạch, lao da hạt cơm, lao loét kê da và niêm mạc. Đặc điểm chung của nhóm này là bệnh tiến triển mãn tính, có xu hư­ớng hoại tử và xét nghiệm vi khuẩn trên các tổn thương thường dương tính. Hình ảnh mô bệnh học đặc tr­ưng của nang lao cũng được ghi nhận với vùng trung tâm là các tế bào khổng lồ, trực khuẩn lao, bên ngoài là tế bào lympho và tế bào bán liên. Bệnh lao da ở nhóm này thường đi kèm với tổn thương lao ở các cơ quan khác.

Á lao: bao gồm lao sẩn hoại tử, lao dạng liken, lao da cứng. Khác với lao da thực sự, á lao thường ít có xu hướng hoại tử, hiếm khi tìm thấy vi khuẩn lao từ các bệnh phẩm, hình ảnh mô bệnh học không có nang đặc trưng và có thể có hoặc không các tổn thương lao ở các bộ phận khác trong cơ thể.

Trong đa số các trường hợp, bệnh nhân mắc bệnh lao da do vi khuẩn lao được đưa đến da từ các cơ quan bị nhiễm lao khác như lao phổi, lao xương, lao hạch thông qua các con đường:

Đư­ờng máu: mạch máu từ ổ lao ở cơ quan bị phá huỷ đưa trực khuẩn lao vào máu, lan truyền khắp nơi trong cơ thể và vào da.

Đư­ờng bạch huyết: thường xảy ra khi có tổn thương lao hạch kèm theo. Trực khuẩn lao lan theo mạch bạch huyết đến vùng da bị tổn thương.

Bệnh lao da được lây truyền từ người bệnh sang người lành thông qua đường tiếp xúc trực tiếp. Vi khuẩn lao xâm nhập được thông qua các vết thương trên da và niêm mạc. Ngoài ra vi khuẩn lao có thể truyền bệnh thông qua các con đường khác, tùy thuộc vào thể lao phổi và các thể lao ngoài phổi khác kèm theo.

Tác nhân gây bệnh là trực khuẩn lao Mycobacterium Tuberculosis. Đây là một loại vi khuẩn hiếu khí, cần môi trường giàu oxy để sinh sôi phát triển và phân chia rất chậm. Vi khuẩn lao được phân loại vào nhóm trực khuẩn kháng acid cồn vì khả năng giữa được màu nhuộm sau khi tẩy với acid. Quan sát dưới kính hiển vi, trực khuẩn lao có dạng hình que, màu đỏ tươi nổi bật trên nền xanh.

Vi khuẩn lao gây bệnh có thể tồn tại ở môi trường bên ngoài trong nhiều tuần và chịu được các chất sát khuẩn yếu. Có 3 nhóm trực khuẩn lao chính bao gồm: trực khuẩn lao người, trực khuẩn lao bò và trực khuẩn lao từ chim.

Hình ảnh bệnh lao da trên lâm sàng khác phong phú, phụ thuộc vào tuổi, giới, vị trí da bị tổn thư­ơng và tình trạng miễn dịch và dị ứng của người bệnh. Các hình thể lâm sàng.

Lupus lao

Đây là thể lao da thư­ờng gặp nhất, chiếm tỷ lệ khoảng từ 50 – 70 %, thường thấy ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

Biểu hiện lâm sàng đặc trưng là củ lao màu vàng đỏ hoặc vàng nâu kích thư­ớc có thể nhỏ như đầu đinh ghim hoặc to nh­ư hạt đậu, trơn bóng, có ít vảy, hoặc có vết chợt, loét da. Các củ lao liên kết với nhau thành đám, tạo sẹo ở giữa màu trắng. Tổn thương thường thấy ở mặt và môi trên,­ bàn tay, bàn chân, mông và đầu cũng có thể gặp nhưng hiếm hơn. Lupus lao được chia thành nhiều thể lâm sàng khác nhau:

Lupus lao phẳng: các củ lao không nổi cao lên trên bề mặt da và tiến triển chậm.

Lupus lao loét : xuất hiện nhiều ổ loét nông trên da, bờ nham nhở, đáy ổ loét có các hạt lổn nhổn kèm theo mủ. Thể lupus lao loét phá huỷ các tổ chức, có thể làm mất một cánh mũi hoặc vành tai, thủm vòm miệng, thậm chí mất ngón tay gây tàn phế nếu đi kèm với tổn thương xương.

Lupus sùi loét : các tổn thương dạng mảng cộm, hơi cao hơn mặt da, trên đó thấy các u lao. Về sau tiến triển thành các điểm loét, lan rộng tạo thành tổn thương dạng sùi.

Lupus ăn ngoạm: là thể bệnh có tổn thương loét nhanh, loét sâu, mất từng vùng ở mũi và mặt, tạo sẹo lớn ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ và tâm lý của bệnh nhân.

Lupus sẩn cục: biểu hiện bằng các sẩn cục màu đỏ tím, phân bố rải rác

Lupus lao vẩy nến: trên bề mặt tổn thương có một lớp vảy dày.

Lupus lao mì: Tổn thương dạng sần mì như hạt cơm.

Lao cóc

Thể lao này hay gặp ở người lớn, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn. Vị trí hay bị tổn thương là mu bàn tay, ngón tay 1, 2 và da bàn chân. Các th­ương tổn trên da là những mảng sùi có vảy, u sừng cứng, màu xám trắng đục, xung quanh có viền đỏ, trông như da cóc. Lao ruột, lao phổi hoặc lao xương là những tổn thương lao có thể phối hợp kèm theo. Tiến triển bệnh kéo dài nhiều năm, có thể để lại sẹo nhưng không có sự phá hủy các tổ chức.

Loét lao

Triệu chứng đầu tiên là những nốt sẩn bằng đầu đinh ghim, loét nhanh, liên kết với nhau thành vết loét lớn, bờ lởm chởm nhợt nhạt hoặc hơi tím; đáy của vết loét nông, có nhiều điểm xuất huyết và rất ít mủ. Tổn thư­ơng thường xuất hiện ở môi hoặc niêm mạc má, lư­ỡi, xung quanh miệng, ở hậu môn và tầng sinh môn.

Gôm lao

Tổn thương có dạng khối, ở dưới da, khi vỡ chảy ra một chất mủ kèm nhầy máu, rồi tự bít tạo thành lỗ dò thông nhau. Một số trường hợp tổn thương gây loét, bờ nham nhở, đáy lổn nhổn màu vàng nhạt. Các gôm lao có thể xuất hiện đơn độc hoặc thành nhóm, ở các vị trí có hạch, cổ, bẹn, thân mình hoặc các chi. Bệnh tiến triển âm thầm, lâu lành.

Ban củ sẩn

Ban củ sẩn thường là những tổn thương cục nằm sâu ở lớp trung bì, cứng chắc và không đau, xu hướng tạo mủ và loét hoặc hoại tử tạo thành sẹo lõm. Ban củ sẩn có nhiều dạng như ban củ sẩn cục, ban củ sẩn kê dạng trứng cá đỏ, ban củ sẩn hoại tử, ban củ nang lông dạng liken.

Lao kê

Lao kê ở da hiếm gặp, phổ biến ở những người suy giảm miễn dịch như bệnh nhân HIV/AIDS. Trên da, xuất hiện những nốt màu đỏ, kích thước 1mm – 2mm, lấm tấm như hạt kê.

Tất cả các bệnh nhân đã được xác định mắc bệnh lao da cần được khám và phát hiện các thể lao khác. Việc điều trị bệnh lao da phải có tính toàn diện và kéo dài, không chỉ xử trí các tổn thương ở da.

Các thuốc kháng lao được khuyến cáo trong điều trị bệnh lao da tương tự với điều trị lao phổi. Các thuốc kháng lao có nhiều tác dụng phụ nên người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn và tái khám của các bác sĩ chuyên khoa, tuyệt đối không được tự ý bỏ thuốc.

Các phương pháp khác như cắt lọc thương tổn nhỏ trên da, phẫu thuật tạo hình ở những trường hợp sẹo xấu cũng có thể được áp dụng.

Ngoài việc tuân thủ điều trị các thuốc kháng lao, người bệnh cần chú ý cải thiện sức khỏe toàn thân, bổ sung dinh dưỡng, tăng cường hệ miễn dịch để tăng hiệu quả điều trị.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Lao da và mô dưới da

Để chẩn đoán xác định các tổn thương của bệnh lao da, bác sĩ cần chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng như:

Phòng ngừa bệnh Lao da và mô dưới da

Các biện pháp giúp phòng tránh mắc bệnh lao nói chung, bao gồm cả lao da có thể kể đến như:

Đảm bảo chế độ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng

Thường xuyên rèn luyện thân thể, tăng sức đề kháng

Sử dụng các loại thuốc theo sự chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ

Hạn chế tiếp xúc thân mật với những người mắc bệnh lao

Tiêm vắc xin phòng bệnh lao theo chương trình tiêm chủng quốc gia

Đến khám tại các cơ sở y tế ngay khi có các triệu chứng bất thường.

Nếu đã được chẩn đoán mắc bệnh lao, người bệnh cần tuân thủ điều trị của bác sĩ để giải quyết triệt để bệnh, tránh lây lan cho các cơ quan khác trong cơ thể hay lây truyền cho người khác.

Đối tượng nguy cơ bệnh Lao da và mô dưới da

Những người có các đặc điểm sau được xem là đối tượng nguy cơ của bệnh lao da:

Hệ miễn dịch bị suy yếu, nhiễm HIV/AIDS

Mắc các bệnh lý toàn thân như đái tháo đường, suy thận mãn tính và các bệnh lý ác tính

Nghiện rượu hoặc sử dụng các chất kích thích.

Suy dinh dưỡng

Dùng các loại thuốc điều trị ung thư, hay corticosteroid trong thời gian dài.

Tiếp xúc thân mật, thường xuyên với người mắc bệnh lao

Sống và làm việc hoặc du lịch đến các vùng dịch tễ của bệnh lao.

Môi trường sống kém, điều kiện y tế không đảm bảo

Copyright © 2019 – Sitemap

Bệnh Lao Da Không Điển Hình Và Điều Trị

Có khoảng hơn 15 loài vi khuẩn Lao không điển hình trong môi trường (từ nước, đất, cây, súc vật). Chúng ít gây bệnh và không là nguồn nhiễm giữa người với người. Có sự gia tăng theo dịch nhiễm HIV. cấy khó, một vài loài chỉ được phát hiện nhờ sinh học phân tử.

Các vi khuẩn Lao không điển hình chủ yếu gây tổn thương ở da và mô mềm, viêm hạch, tốn thương phổi và các thể lan tỏa ở người suy giảm miễn dịch. Sự tiêm nhiễm vi khuẩn qua da do da bị rách hở vì tai nạn hay do một số điều trị như chích thuốc, phẫu thuật hoặc thứ phát bằng đường bạch huyết và máu.

LÂM SÀNG CÁC THƯƠNG TỔN LAO KHÔNG ĐIỂN HÌNH

Mycobacterium abscessus

Thuộc nhóm Mycobacteria sinh sản nhanh, ít gây bệnh, hiếm khi gây áp-xe, có nguồn gốc do thuốc.

Áp-xe lan tỏa được mô tả ở những người suy giảm miễn dịch và ở người thẩm phân lọc máu.

Mycobacterium avium nội tế bào

Tiêm nhiễm ở da tạo nên nốt viêm, áp-xe hay viêm hạch.

Những ca Lupus vulgaris đã được mô tả và hệ gene của vi khuẩn đã được tìm thấy trong bệnh Sarcoidose.

Mycobacterium chelonae

Sinh sản nhanh, cho những áp-xe dạng giống Sporotrichose nguồn gốc chấn thương hay do điều trị.

Dạng nặng lan tỏa ở người suy giảm miễn dịch.

Mycobacterium fortuitum

Là nguyên nhân thường gặp của Lao da không điển hình sau M. marinum.

Thương tổn đa dạng: sẩn nốt, loét, phân bố giống Sporotrichose.

Tổn thương giác mạc cũng được ghi nhận.

Mycobacterium haemophilum

Khó cấy, gây những loét, nhiều nốt, áp-xe dưới da và thương tổn lan tỏa. Vài ca viêm xương tủy được mô tả.

Mycobacterium kansasii

Gây thương tổn phổi, ở da thì hiếm, đôi khi có dạng Ban Lao sẩn hoại tử.

Mycobacterium marinum

Là nguyên nhân thường gặp trong bệnh Lao da không điển hình gây bệnh u hạt hồ bơi. Tiêm nhiễm qua da sau một chấn thương nhỏ, thường ở vùng nhô lên của xương (đầu gối, cùi chỏ, bàn tay, chân, mặt).

Thời gian ủ bệnh trung bình là 3 tuần. Thương tổn đầu tiên là những sẩn không đau diễn tiến thành nốt viêm hay những mảng vảy có thể dẫn tới loét, phân bố giống bệnh Sporotri­chose dọc theo đường bạch huyết, không gây tổn thương hạch, có thể kèm theo viêm khớp hay viêm màng bao hoạt dịch (ténosynovite).

Xét nghiệm trực tiếp thường âm tính. Chẩn đoán dựa vào bệnh sử lâm sàng, mô học và cây. Thử nghiệm trong da với marinin không còn được dùng nữa.

Điều trị bằng kháng sinh kết hợp như Rifampicin 300-600mg/ngày và Ethambutol 900- 1500mg/ngày hoặc đơn hóa trị liệu bằng Co-trimoxazole 2 viên X 800/160mg/ngày hoặc Minocycline100mg/ngày. Thời gian điều trị 6 tuần hay hơn. Có thể phẫu thuật trong vài trường hợp.

Mycobacterium ulcerans

Là tác nhân gây loét Buruli (ở Uganda) hay loét Baimsdale (ở úc) điển hình là sự lan rộng thành những loét sâu, thường xảy ra ở những vùng gian chí tuyến (intertropicale) như Uganda, Cộng hòa Congo, Côte d’Ivoire, úc, Nam Mỹ.

Thường ở trẻ em không mang giày dép đi trên cỏ gần dòng nước.

Là vi khuẩn Lao độc nhất tiết độc tố gây hoại tử mỡ dưới da.

Khởi đầu là một nốt hay viêm mô tế bào (ở đùi, cánh tay, thân mình). Diễn tiến nhanh thành mảng loét hoại tử, loét khổng lồ, không đau, kết hợp biến chứng xương khớp đa dạng.

Chẩn đoán dựa trên lâm sàng, dịch tễ học và mô học trong giai đoạn đầu có hoại tử quanh mô mỡ kết hợp với nhiều trực khuẩn và ở giai đoạn trễ là những u hạt dạng lao.

Cấy Mycobacterium ulcerans rất khó, đôi khi cần các xét nghiệm sinh học phân tử để xác định chẩn đoán.

Điều trị bao gồm phẫu thuật và ghép da nhất là tại những vùng khớp kết hợp với điều trị kháng sinh như Clofazimin, Rifampicin hay Trimethoprim-sulfamethoxazole.

Điều trị hỗ trợ bằng liệu pháp nhiệt.

Các loài khác

Có nhiều loài gây bệnh trong các thể lan tỏa, ở những người suy giảm miễn dịch.

Thường có biểu hiện gây sốt, tiêu chảy, nổi nhiều hạch, gan lách to và hiếm hơn là thương tổn phổi.

Các thương tổn da thì hiếm, là những nốt viêm mạn tính.

Bảng tóm tắt các bệnh Lao da không điển hình ở người:

Tóm lại, đây là những thể bệnh tương đối ít gặp, việc cấy và định danh loài vi khuẩn gây bệnh vẫn còn giới hạn trong thực hành. Biểu hiện lâm sàng ở da thường là các sẩn cục tiến triển đến loét, viêm mạn tính. Do những tiến bộ trong trị liệu, tiên lượng bệnh cũng được cải thiện tốt hơn

Hắc Lào Trên Da Đầu: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Cách hiểu đơn giản nhất về bệnh hắc lào trên da đầu là bệnh nhiễm nấm xuất hiện ở vùng da đầu và chân tóc. Bệnh có khả năng lây lan nên số lượng người mắc phải căn bệnh này khá lớn, nhất là ở trẻ em.

Hắc lào trên da đầu là gì?

Bệnh hắc lào trên da đầu là bệnh nhiễm nấm, tạo nên những vết tròn trên da mà ảnh hưởng nhiều nhất là ở da đầu và chân tóc. Sự xuất hiện của bệnh gây ra những mảng nhỏ trên da gây ngứa và xuất hiện vảy.

Đây là căn bệnh dễ truyền nhiễm từ người này qua người khác thông qua việc dùng chung lược, chăn, gối, khăn… Những biểu hiện của bệnh xuất hiện rất phổ biến ở trẻ em nhưng có thể lây nhiễm và phát triển ở nhiều đối tượng khác.

Nguyên nhân gây bệnh hắc lào trên da đầu

Nấm Dermatophytes được xem là nguyên nhân chủ đạo gây nên bệnh hắc lào. Thông thường loại nấm này phát triển trên các mô chết như móng tay, tóc và các lớp ngoài cùng trên da. Do có độ ẩm cao nên nấm Dermatophytes phát triển mạnh trên những vùng da có nhiều mồ hôi. Việc vệ sinh kém và tiếp xúc trực tiếp ở nơi đông người có thể dẫn đến tình trạng lây lan.

Bệnh lây lan khá dễ dàng, nhất là ở trẻ em. Chúng ta có thể lây bệnh nếu chạm vào da của người bị nhiễm bệnh. Việc sử dụng chung lược, khăn trải giường, cũng như các vật dụng tiếp xúc với da của người nhiễm bệnh rất dễ làm bạn bị lây bệnh. Ngoài ra, vật nuôi trong nhà như mèo và chó cũng có khả năng lây bệnh. Những động vật nuôi như dê, bò, ngựa lợn cũng có thể là chủ thể mang mầm bệnh.

Triệu chứng hắc lào trên da đầu

Khi mắc bệnh này, triệu chứng phổ biến nhất là các mảng ngứa trên da đầu. Phần tóc ở gần da đầu thường dễ bị gãy, để lại vảy, đốm đỏ và bị hói. Nếu không được điều trị sớm thì vùng da bị bệnh sẽ ngày càng phát triển và lan rộng sang các vùng da khác.

Các triệu chứng khác có thể gặp:

Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn thì trên da có thể xuất hiện các mảng sưng tấy và chảy mủ. Với những trường hợp này thì thường người bệnh sẽ bị hói vĩnh viễn và hình thành sẹo trên da đầu.

Chẩn đoán bệnh hắc lào trên da đầu

Các bác sĩ sẽ tiến hành quan sát trực quan để chẩn đoán sơ qua về bệnh hắc lào trên da đầu. Thông thường, các bác sĩ chuyên khoa sẽ dùng các thiết bị để chiếu vào da đầu nhằm xác định chính xác vị trí bị nhiễm trùng.

Bác sĩ cũng có thể lấy một phần tế bào da hoặc tóc ở da đầu để gửi đi làm xét nghiệm. Lúc này tóc của bạn sẽ được phân tích và quan sát dưới kính hiển vi để đưa ra kết luận về nguyên nhân gây bệnh. Cách chẩn đoán này mất khá nhiều thời gian.

Điều trị bệnh hắc lào trên da đầu

Tùy theo tình trạng bệnh mà các bác sĩ sẽ chỉ định loại thuốc phù hợp. Thông thường thuốc hay sử dụng là thuốc uống diệt nấm và dầu gội thuốc

# Thuốc chống nấm

Để điều trị hắc lào ở da đầu, bác sĩ chuyên khoa hay chỉ định hai loại thuốc là: terbinafine hydrochloride và griseofulvin (Grifulvin V, Gris-PEG). Thời gian dùng hai loại thuốc này thường trong vòng 6 tuần.

Do tác dụng phụ của cả hai loại thuốc đều là tiêu chảy và đau dạ dày nên bác sĩ hay khuyên trước khi uống thuốc nên dùng thực phẩm giàu chất béo như bơ đậu phộng hoặc kem.

Ngoài ra, khi sử dụng thuốc griseofulvin (Grifulvin V, Gris-PEG) cũng có thể gặp những tác dụng phụ khác như:

Nhạy cảm với ánh nắng mặt trời

Buồn nôn

Mệt mỏi

Ngất xỉu

Chóng mặt

Đau đầu

Phát ban

Còn khi sử dụng thuốc terbinafine hydrochloride thì có thể gặp phải những tác dụng phụ như:

Đau bụng

Ngứa

Phát ban

Mất vị giác

Dị ứng

Đau đầu, sốt

Người bệnh cần phải hết sức thận trọng trong quá trình sử dụng thuốc. Cách tốt nhất là nên tuân thủ tuyệt đối theo những gì mà bác sĩ đã chỉ định về liều lượng. Khi có bất cứ phản ứng bất thường hay các triệu chứng ngày càng nặng thì nên ngưng dùng thuốc và đến gặp bác sĩ ngay.

# Dùng dầu gội

Bác sĩ có thể kê toa một loại dầu gội để loại bỏ nấm và ngăn ngừa sự lây lan của biểu hiện bệnh. Thông thường dầu gội hay chứa hoạt chất ketoconazole hoặc selenium sulfide. Nhưng dầu gội chỉ có tác dụng ngăn ngừa lây lan và không có tác dụng điều trị nấm. Chính vì vậy phải dùng kèm với thuốc chứ không được dùng riêng lẻ.

Bác sĩ hay chỉ định dùng dầu gội khoảng 3 lần mỗi tuần. Thông thường hay bôi dầu gội lên tóc và da đầu, để yên trong 5 phút rồi gội đầu lại thật sạch.

Khả năng phục hồi và tái phát của bệnh hắc lào trên da đầu

Bệnh hắc lào trên da đầu thường cải thiện rất chậm nên có khi phải áp dụng dùng thuốc 1 tháng mới có chuyển biến. Điều này đòi hỏi người bệnh phải thật sự kiên trì và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

Thông thường biểu hiện nhiễm trùng thường biểu hiện ở giai đoạn từ 4 đến 6 tuần. Nếu tình trạng bệnh kéo dài và tái phát nhiều lần thì có thể phá hỏng cấu trúc da gây hói đầu và hình thành sẹo.

Chú ý ngoài việc điều trị cho người bệnh cũng nên đưa ra các kiểm tra và chữa trị cho vật nuôi cũng như các thành viên khác trong gia đình. Nếu cẩn thận có thể khử trùng vật dụng cá nhân như lược, khăn, ga trải giường… trong thuốc khử trùng.

Phòng chống bệnh hắc lào trên da đầu

Các tác nhân gây bệnh hắc lào trên da đầu rất dễ phát triển và lây lan nên việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa là hết sức cần thiết. Cụ thể:

Tránh dùng chung vật dụng cá nhân

Thường xuyên gội đầu, rửa tay… để ngăn ngừa tình trạng lây lan cũng như nhiễm trùng.

Hạn chế vuốt ve lông vật nuôi khi chưa xác định được có mắc bệnh hay không. Tốt hơn hết là nên đưa chúng đi khám thường xuyên để phát hiện bệnh sớm.

Qua những gì được chia sẻ có lẽ bạn đã có những hiểu biết cơ bản về bệnh hắc lào da đầuv. Từ đó có ý thức rõ hơn đối với việc điều trị cũng như phòng chống bệnh.

ThuocDanToc.vn không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Điều Trị Lao Hạch, Triệu Chứng, Chẩn Đoán, Nguyên Nhân Gây Lao Hạch

Bệnh lao hạch là thể lao ngoài phổi còn gặp khá phổ biến ở nước ta và bệnh lao hạch ở trẻ em đang có xu hướng tăng mạnh. Lao hạch ngoại biên là thể lao thường gặp nhất với các vị trí như hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn. Ngoài ra bệnh lao hạch có thể gặp ở các hạch ở các hạch ở nội tạng như hạch trung thất, hạch mạc treo…

Trước khi tìm hiểu bệnh lao hạch có lây không, bệnh lao hạch có nguy hiểm không, cần khẳng định rằng đây là bệnh ít nguy hiểm, không gây tử vong, có thể chữa khỏi nhưng khá phổ biến và diễn biến kéo dài. Tuy nhiên bệnh lao hạch gây nhiều khó khăn trong sinh hoạt, thường để lại nhiều di chứng, sẹo dị dạng gây mất thẩm mỹ nên người bệnh không nên chủ quan.

Hiện nay, có hai thể lao hạch phổ biến: lao hạch khí phế quản chỉ gặp ở trẻ em và lao hạch ngoại vi phổ biến ở mọi lứa tuổi. Bệnh lao hạch thường xuất hiện ở thanh thiếu niên, nữ giới mắc lao hạch cao gấp 2 lần nam giới. Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh lao hạch cũng tương đối lớn và xuất hiện ở mọi đối tượng như ở Việt Nam.

Đường lây truyền bệnh Lao hạch

Không giống với lao phổi, trong bệnh lao hạch vi khuẩn lao chỉ khu trú trong hạch viêm, không rò rỉ ra bên ngoài nên bệnh lao hạch không lây trực tiếp từ người sang người, đặc biệt là những người trực tiếp chăm sóc người bị bệnh lao hạch. Như vậy bệnh lao hạch không phải là một bệnh lây nhiễm.

Tuy nhiên, cách điều trị lao hạch cũng tương tự lao phổi là chủ yếu dùng phương pháp nội khoa như dùng các loại thuốc điều trị theo các giai đoạn để ức chế dẫn đến tiêu diệt vi khuẩn lao. Nhìn chung, bị lao hạch cần đi khám và áp dụng đúng chỉ định điều trị, không ảnh hưởng đến những người xung quanh.

Triệu chứng bệnh Lao hạch

Khi bị lao hạch, người bệnh có biểu hiện chính là sưng to một hoặc nhiều hạch. Hạch tăng kích thước dần dần nên người bệnh thường không biết rõ hạch xuất hiện từ thời điểm nào. Hạch to dần, không đau, mật độ chắc, bề mặt nhẵn, da vùng hạch sưng to không nóng, không tấy đỏ. Thường thấy nhiều hạch cùng bị sưng, tập hợp thành một chuỗi, cũng có khi chỉ gặp một hạch đơn độc vùng cổ sưng to.

Hạch lao phát triển qua 3 giai đoạn sau:

Giai đoạn đầu hạch bắt đầu sưng to, không đều nhau di động còn dễ vì chưa dính vào nhau và chưa dính vào da. Bệnh có thể chỉ dừng ở giai đoạn này hoặc chuyển sang giai đoạn viêm hạch và viêm quanh hạch.

Giai đoạn sau gọi biểu hiện viêm hạch và viêm quanh hạch. Lúc này các hạch lớn hơn, do có viêm các tổ chức quanh hạch nên có thể dính với nhau thành mảng hoặc chuỗi, hoặc dính vào da và các tổ chức xung quanh làm hạch hạn chế di động.

Giai đoạn nhuyễn hóa: các hạch mềm dần, sờ thấy lùng nhùng, da vùng hạch sưng tấy đỏ, không nóng và không đau, có thể thấy đỉnh mũ. Khi đã hóa mủ hạch dễ vỡ tạo những lỗ rò lâu liền, miệng lỗ rò tím ngắt và tạo thành sẹo nhăn nhúm, lồi hoặc những dây chằng xơ gây mất thẩm mỹ. Mủ chảy ra thường có màu xanh nhạt, không dính, trong mủ có bã đậu lổn nhổn.

Trong quá trình mắc bệnh lao hạch, tổng trạng không bị ảnh hưởng nhiều, đôi khi có sốt nhẹ hay mệt mỏi. Ngoại trừ bị bội nhiễm hay kèm theo tổn thương lao ở các cơ quan khác như phổi, xương… Triệu chứng toàn thân sẽ biểu hiện nặng nề hơn.

Bệnh lao hạch ở thể khối u hay còn gọi là viêm hạch lao phì đại thường có biểu hiện: xuất hiện khối u ở cổ, thấy một hay vài hạch nổi to, sau dính thành một khối, không đau, không đỏ, di động, sờ chắc. Khối u to dần, chiếm gần hết vùng cổ làm biến dạng cổ bệnh nhân. Các hạch ở những nơi khác như dưới hàm, mang tai… Cũng bị phì đại. Viêm hạch lao phì đại thường rất khó điều trị dứt điểm. Thể bệnh này rất ít gặp.

Phòng ngừa bệnh Lao hạch

Để phòng bệnh lao hạch, cần tuân thủ:

Nâng cao sức đề kháng, chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý.nhất là đối với trẻ em,

Cần vệ sinh răng miệng, nhổ hoặc chữa răng sâu.

Khi đã được chẩn đoán là lao hạch, cần tuân thủ điều trị theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa lao để điều trị dứt điểm, tránh để vi khuẩn lao xâm nhập và gây bệnh ở những cơ quan khác.

Các biện pháp điều trị bệnh Lao hạch

Bệnh lao hạch có chữa khỏi không? Nhìn chung bệnh lao hạch dễ điều trị hơn các bệnh lao khác. Các phương pháp điều trị bệnh lao hạch bao gồm:

Điều trị nội khoa

Nguyên tắc tương tự như khi điều trị bệnh lao nói chung. Cần phối hợp các thuốc chống lao, ít nhất từ 3 thuốc trở lên.Thời gian điều trị lao hạch có thể kéo dài từ 4-12 tháng tùy thể bệnh và đáp ứng của từng bệnh nhân. Lao hạch ở trẻ em thường đáp ứng tốt khi kết hợp việc dùng thuốc với giữ gìn vệ sinh trong sinh hoạt như vệ sinh răng miệng, nhổ hoặc chữa răng sâu. Ở giai đoạn hạch hóa mủ và sắp vỡ, có thể hút mủ chủ động để tránh tạo đường dò hoặc sẹo xấu, dùng thuốc kháng sinh và tiếp tục dùng rimifon vài tháng dù không còn biểu hiện bệnh. Hầu hết các thuốc điều trị lao đều gây tổn thương gan do đó nên kết hợp thêm các thuốc hay sản phẩm có tác dụng bảo vệ gan, hạ men gan.

Điều trị ngoại khoa

Mổ lấy toàn bộ hạch: khi hạch hóa mủ nhưng không đáp ứng khi được chọc dò và điều trị kết hợp với kháng sinh hoặc trong trường hợp u lympho lao hạch, lao không thành mủ, khu trú. Tốt nhất nên điều trị lao trước khi phẫu thuật để tránh lan tràn vi khuẩn.

Mổ và nạo vét sạch mủ bã đậu và đắp kháng sinh chống lao cũng là cách điều trị có hiệu quả.

Không nên cắt bỏ hạch sớm ở trẻ em vì hạch có vai trò bảo vệ chống sự xâm nhập của trực khuẩn lao.

Về điều trị, cần chú ý chăm sóc sức khỏe, nhất là đối với trẻ em, tránh để viêm hạch mạn tính.

Bệnh thường gặp ở vùng cổ, xuất hiện nhiều ở trẻ em.

Tác nhân gây bệnh lao hạch là trực khuẩn lao, phổ biến nhất là Mycobacterium tuberculosis. Các hạch viêm ngoại vi là vị trí mà vi khuẩn lao dễ dàng xâm nhập, khu trú và dẫn đến lao hạch. Trực khuẩn lao có thể xâm nhập trực tiếp vào đường bạch huyết qua thương tổn ở niêm mạc miệng, hoặc do sang chấn, nhiễm khuẩn hoặc bệnh có thể do nhiễm khuẩn lao toàn cơ thể (như trong lao phổi), gây viêm hạch nhiều chỗ.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Lao hạch

Chẩn đoán xác định

Dựa vào biểu hiện lâm sàng và một số xét nghiệm như:

Chẩn đoán phân biệt

Viêm hạch cấp hoặc mạn tính do vi khuẩn hoặc virus là chẩn đoán cần phân biệt hàng đầu. Nếu sưng nóng, đỏ, sờ đau, mật độ mềm và đáp ứng với điều trị kháng sinh thì đó là hạch viêm do nhiễm khuẩn

Bệnh Hodgkin và Non-Hodgkin: sinh thiết hạch và làm tủy đồ giúp phân biệt

Hạch di căn ung thư: sinh thiết hạch và biểu hiện lâm sàng của ung thư nguyên phát

Các u lành tính: u mỡ, u xơ, u thần kinh, u nang bạch huyết,…

Copyright © 2019 – Sitemap

Cập nhật thông tin chi tiết về Nguyên Nhân Gây Lao Da Và Mô Dưới Da, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Lao Da Và Mô Dưới Da trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!