Xu Hướng 2/2023 # Một Số Bệnh Liên Quan Đến Thận # Top 3 View | Zqnx.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Một Số Bệnh Liên Quan Đến Thận # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Bệnh Liên Quan Đến Thận được cập nhật mới nhất trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

NHẬN BIẾT VỀ CƠ QUAN THẬN ?

Thận là cơ quan đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của con người. Thận gồm có hai quả hình dáng giống như hạt đậu, to bằng nắm tay, nằm ở phía lưng. Cứ khoảng 30 phút một lần, toàn bộ lượng máu của cơ thể lại được lọc hết qua thận để loại bỏ các chất thải độc hại đối với cơ thể, giữ lại các dưỡng chất cần thiết. Thận duy trì sự cân bằng của nước, đảm bảo mức độ ổn định của các khoáng chất cần thiết như canxi, sản xuất hormon như erythropoietin, enzym và vitamin, giúp điều hòa huyết áp và số lượng hồng cầu…

Rất nhiều nguyên nhân khiến thận bị bệnh, đó có thể là do dùng quá nhiều loại thuốc trị bệnh, nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến thận, các bệnh như: tăng huyết áp, tiểu đường… Khi bị bệnh, bệnh nhân bị đau vùng hông lưng, sát gần xương sườn, có thể kèm theo sốt. Nếu bị sỏi thận, cơn đau sẽ rất dữ dội, từ sau lưng lan xuống bộ phận sinh dục. Đa số người mắc bệnh thận sẽ bị phù toàn thân, từ mí mắt xuống bàn chân, da trắng nhạt. Sự thay đổi màu sắc và độ trong của nước tiểu cũng là một biểu hiện của bệnh thận. Bình thường, nước tiểu trong, có màu vàng từ nhạt tới hơi sẫm. Còn ở bệnh nhân mắc bệnh thận, nước tiểu thường bị đục hoặc có màu thẫm hơn bình thường

1. SUY THẬN:

1. Suy thận: Là khi thận không đủ sức thải bỏ mọi cặn bã khiến các chất độc hại và dịch dư thừa đọng lại trong cơ thể. Căn cứ vào các chỉ số albumin, creatinin, ure, protein… qua xét nghiệm nước tiểu sẽ biết được tình trạng bệnh của thận. Có 3 thể suy thận là suy thận cấp tính, mạn tính và suy thận giai đoạn cuối. Trong suy thận mạn tính, một số trường hợp bệnh nặng phải chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận để duy trì sự sống. Đây cũng chính là suy thận giai đoạn cuối.

2. Sỏi thận: là một hiện tượng chất khoáng trong nước tiểu lắng đọng lại ở thận, lâu ngày kết lại tạo thành sỏi. Sỏi thận là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến suy thận

Triệu chứng bệnh sỏi thận:

Nếu như bệnh nhân mắc bệnh sỏi thận bệnh nhân có thể mắc các triệu chứng như sau: đau đầu do cao huyết áp, phù mặt hoặc tay chân hoặc bụng hoặc tất cả do ứ nước trong cơ thể, mệt mỏi, đắng miệng, chán ăn, buồn nôn, mờ mắt, đau đầu, giảm tập trung và giảm ham muốn tình dục, chóng mặt, da xanh.

Ngoài ra, khi bị bệnh sỏi thận và sỏi đường tiết niệu, bệnh nhân sẽ thấy đái khó, đái buốt, đái rắt, màu sắc nước tiểu thay đổi (đục, đỏ…), lượng nước tiểu ít, đau vùng thắt lưng, có thể kèm theo sốt hoặc không sốt… Nguyên nhân gây ra sỏi thận – niệu là do có sự rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, đặc biệt là lượng canxi trong nước tiểu tăng do chế độ ăn uống thừa canxi, rối loạn chuyển hóa tuyến nội tiết và tuyến cận giáp trạng. Một nguyên nhân phổ biến nữa gây sỏi thận là do viêm nhiễm đường tiết niệu.

3. Viêm thận: Là tình trạng viêm thường gặp do nhiễm khuẩn hoặc do ngộ độc thuốc, hóa chất. Vi khuẩn gây bệnh thường là Enterobacter, E.Coli, Proteur… Viêm thận chia thành hai dạng, đó là viêm cầu thận cấp và viêm cầu thận mạn tính. Viêm cầu thận cấp là bệnh hay gặp trong các bệnh thận ở trẻ em từ 2 – 15 tuổi. Nguyên nhân do nhiễm liên cầu khuẩn hoặc do các ổ nhiễm khuẩn bội nhiễm. Điều kiện vệ sinh kém cũng là hoàn cảnh thuận lợi gây bệnh. Viêm cầu thận mạn tính là biến chứng của viêm cầu thận cấp, thường gặp ở người lớn.

4. Viêm ống thận cấp: Thường là do ngộ độc chì, thuỷ ngân, sunfamit khiến người bệnh không đái được, urê máu cao, nước tiểu có protein, nhiều hồng cầu, bạch cầu trụ hình hạt. Một số chất khác gây viêm ống thận nhiễm độc như asen, tetraclorua, axit oxatic, phosphocacbon, axit clohydric, axit nitric, cantarit, pyramydon naptol, clorofoc, vitamin D2. .

Tiến triển và biến chứng của viêm ống thận cấp : Bệnh diễn biến qua 4 giai đoạn: Giai đoạn khởi đầu: Là giai đoạn tấn công của tác nhân gây bệnh, nhanh hay chậm tùy theo từng nguyên nhân. Giai đoạn đái ít – vô niệu: Lượng nước tiểu giảm dần dưới 500ml/ ngày rồi vô niệu, bệnh nhân không có nước tiểu hoặc thông đái cả ngày cũng chỉ có vài giọt đến 5 – 10ml. Có hội chứng tăng u rê máu: Rối loạn tiêu hóa (nôn, ỉa lỏng). Kích thích vật vã, co giật, hôn mê, rối loạn nhịp thở, nhịp tim nhanh hay chậm, huyết áp không cao hoặc cao vừa. Giai đoạn đái nhiều: Nước tiểu lúc đầu đục, sau trong, số lượng tăng dần có thể 3 – 4 lít/ ngày nhưng u rê máu và Creatini vẫn tăng và U rê niệu vẫn giảm do khả năng cô đọng của ống thận chưa hồi phục, bệnh nhân có thể chết do U rê máu cao. Giai đoạn phục hồi: Nước tiểu trong, các rối loạn về sinh hóa và chức năng thận dần dần trở về bình thường: U rê máu và Creatinin máu giảm dần, bệnh nhân ngày càng cảm thấy dễ chịu và khỏi hẳn không để lại di chứng. Trong quá trình đó, có thể gây biến chứng: – Phù não gây những cơn co giật. – Phù phổi cấp. – Trụy tim mạch

5. Thận nhiễm mỡ: là một tình trạng rối loạn của thận khi thận bài tiết quá nhiều protein cùng với nước tiểu ra khỏi cơ thể. Bệnh Thận Nhiễm Mỡ gây sưng (phù), đặc biệt là ở bàn chân và mắt cá chân của bạn và làm tăng nguy cơ về các vấn đề sức khỏe khác như sụt giảm cân nặng, thường xuyên chán ăn… Đây là bệnh có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào và đặc biệt tỷ lệ nam giới bị bệnh thường cao hơn nữ giới. Dấu hiệu nhận biết bệnh mỡ thận

Phù nề là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất của Bệnh Thận Nhiễm Mỡ. Tình trạng này có thể xảy ra đối với toàn bộ cơ thể và phát triển nhanh chóng.

Trong rất nhiều trường hợp còn xuất hiện trạng thái tràn dịch màng phổi, nặng hơn có thể là tràn dịch màng tim hoặc phù não gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người bệnh.

Thước đo được các bác sĩ đánh giá tình trạng phù chính là nồng độ albumin trong máu.

Tiểu tiện ít: Bệnh thường đi kèm với tình trạng đái ít và lượng nước tiểu của bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc Bệnh Thận Nhiễm Mỡ chỉ vào khoảng dưới 500ml mỗi ngày.

Biểu hiện toàn thân: Cảm giác mệt mỏi, chán ăn, da xanh xao là những triệu chứng toàn thân của người bệnh.

6. Hội chứng thận hư: Khi các tác nhân gây bệnh lắng đọng ở cầu thận. Nhiều khi hội chứng thận hư có nguyên nhân từ việc dùng thuốc không đúng liều lượng. Khi ngừng thuốc, cầu thận có thể trở lại bình thường.

BIẾN CHỨNG KHÓ LƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN THẬN?

Các cục máu đông:

Các cầu thận bị suy yếu nghiêm trọng dẫn tới bất lực, hoạt động lọc máu trong cơ thể không được diễn ra bình thường và đúng cách. Từ đó khiến cho lượng protein trong máu bị mất mát. Chính vì thế, đã làm tăng nguy cơ hình thành và phát triển nên những cục máu đông ở trong tĩnh mạch.

Nghèo dinh dưỡng:

Mất protein máu quá nhiều có thể dẫn đến suy dinh dưỡng. Điều này có thể dẫn đến giảm cân, nhưng nó có thể được ẩn bởi sưng phù.

Sụt cân nhanh:

Khi hàm lượng protein ở trong máu bị mất đi quá nhiều sẽ khiến cơ thể bị suy dinh dưỡng. Chính điều này, sẽ làm cho bệnh nhân bị hội chứng thận hư sút cân nhanh , xuất hiện triệu chứng sưng, phù ở mặt, bàn tay, bàn chân.

Suy thận mãn tính:

Hội chứng thận hư nếu không được điều trị đúng cách và kịp thời có thể gây ra suy thận mãn tính, lúc này chức năng hoạt động của thận gần như là bằng không. Nếu muốn duy trì sự sống bắt buộc người bệnh phải tiến hành lọc máu định kỳ, hoặc ghép thận. Tuy nhiên chi phí ghép thận ở nước ta hiện nay thường rất cao, không phải bệnh nhân nào cũng có thể thực hiện được.

Như vậy có thể khẳng định, những biến chứng của hội chứng thận hư sẽ vô cùng nguy hiểm. Do đó, khi thấy xuất hiện những dấu hiệu bất thường cần phải tiến hành tới bệnh viện kiểm tra ngay để phát hiện sớm bệnh, kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng/ lần và thực hiện những xét nghiệm cần thiết.

Tag: hien than, can ban than gap, ghep than, can nguoi hien than nhom mau o

ĐỂ LẠI Ý KIẾN BÌNH LUẬN ĐỂ CHÚNG TÔI HỖ TRỢ

Suy Giảm Nhận Thức Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Trên Bệnh Nhân Parkinson

Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Trần Văn Tuấn, Phạm Thị Kim Dung Lê Thị Quyên, Món Thị Uyên Hồng, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu – Tiêu chuẩn lựa chọn: Các bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn của Ngân hàng não hội Parkinson Vương quốc Anh đang được khám và điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016. – Tiêu chuẩn loại trừ: Có bằng chứng lâm sàng và/hoặc bằng có hình ảnh học gợi ý đến các hội chứng Parkinson khác của viêm não, bệnh mạch máu não, bệnh tràn dịch não thất hay bệnh sa sút trí tuệ. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Cỡ mẫu thuận tiện: lấy tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu. Tất cả bệnh nhân được hỏi và khám lâm sàng bởi bác sĩ Thần kinh và được làm trắc nghiệm thần kinh tâm lý tại phòng nghiên cứu trí nhớ và sa sút trí tuệ – Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Số liệu được thu thập theo mẫu bệnh án thống nhất. Kết quả được xử lý thống kê theo phần mềm SPSS 16.0. Chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ về trí nhớ theo Ronald Petersen và cộng sự và phân loại dưới nhóm suy giảm nhận thức nhẹ theo Winblad B và cộng sự [1]. Chẩn đoán sa sút trí tuệ: Theo tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ của sách Chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ tư của Hoa Kỳ (DSM-IV/ Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Edition) [1].

Biểu đồ 1. Tỷ lệ suy giảm nhận thức ở bệnh nhân Parkinson

Nhận xét: Trong 106 bệnh nhân Parkinson, có 57 bệnh nhân suy giảm nhận thức (53,8%). Trong đó, 25 bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (23,6%) và 32 bệnh nhân sa sút trí tuệ (30,2%).

Nhận xét: Không có sự khác biệt về sự suy giảm các lĩnh vực nhận thức giữa hai nhóm bệnh nhân Parkinson trên 70 tuổi và từ 70 tuổi trở xuống.

Biểu đồ 2. Đặc điểm suy giảm các lĩnh vực nhận thức ở bệnh nhân Parkinson

Nhận xét: Suy giảm nhận thức ở bệnh nhân Parkinson đặc trưng bởi sự suy giảm chức năng thị giác – không gian (63,2%), tốc độ vận động thị giác (61,4%), HĐHN (52,6%), HĐHN bằng dụng cụ, phương tiện (45,6%), suy giảm trí nhớ.

Nhận xét: Tỷ lệ rối loạn khả năng đọc ngược dãy số và chức năng thùy trán cao hơn có ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân Parkinsnon có trình độ học vấn thấp (cấp 1; 2) (p<0,05)

Nhận xét: Tỷ lệ rối loạn chức năng HĐHN và HĐHN bằng dụng cụ cao hơn có ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân Parkinson giai đoạn bệnh nặng (giai đoạn 3,4 và 5) theo Hoehn – Yahr. (p<0,05).

Nhận xét: Tỷ lệ rối loạn chức năng hoạt động hằng ngày và hoạt động hàng ngày bằng dụng cụ cao hơn có ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân Parkinson giai đoạn bệnh nặng (giai đoạn 3,4 và 5) theo Hoehn – Yahr. (p<0,05)

Impairment cognitive features and some related factors of parkinson’s disease patients Objectives: To describe some cognitive impairment features and some related factors to cognitive impairment of Parkinson’s patients at the National Geriatric Hospital in 2016. Methods: This is a cross-sectional descriptive study was conducted on 106 patients who had been diagnosed with Parkinson’s disease at the National Geriatric Hospital from 12/2015 to 07/2016. Results: The rate of cognitive decline in Parkinson’s patients is 53,8% (mild cognitive impairment has 23,6% and dementia has 30,2%). Cognitive impairment in Parkinson’s disease is characterized by visual ospatial dysfunction (63,2%), visual omotor Speed (61,4%), activities of daily living (52,6%), and remembering information: delayed verbal memory (63,2%), immediate verbal memory (61,4%) and delayed visual memory (50,9%). The impairment of memory and attention in Parkinson’s patients are associated with educational attainment and depression (p <0.05). Besides, activities of daily living and executive function disorder of Parkinson’s patients are associated stage 3,4 and 5 following Hoehn – Yahr scale and depression (p <0.05). Keywords: Parkinson’s disease, cognitive impairment.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Thắng (2010). Bệnh Alzheimer và các thể sa sút trí tuệ khác, Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh, 339. 2. Christopher Leigh, Duff-Canning Sarah et al (2015). Salience Network and Parahippocampal Dopamine Dysfunction in Memory-Impaired Parkinson Disease, Annals of neurology, 77(2), 269-280. 3. J. H. Lanskey, P. McColgan et al (2018). Can neuroimaging predict dementia in Parkinson’s disease?, Brain, 141(9), 2545-2560. 4. Koshimori Yuko, Segura Barbara et al (2015). Imaging changes associated with cognitive abnormalities in Parkinson’s disease, Brain structure & function, 220(4), 2249-2261. 5. S. J. Chung, H. S. Yoo et al (2018). Effect of striatal dopamine depletion on cognition in de novo Parkinson’s disease, Parkinsonism Relat Disord, 51, 43-48. 6. Gratwick James, Jahanshahi Marjan et al (2015). Parkinson’s disease dementia: a neural networks perspective, Brain, 138(6), 1454-1476. 7. Katrin Jekel, Marinella Damian et al (2015). Mild cognitive impairment and deficits in instrumental activities of daily living: a systematic review, Alzheimer’s Research & Therapy, 7(17).

Tỉ Lệ Và Một Số Yếu Tố Nghề Nghiệp Liên Quan Đến Bệnh Chàm Tay Của Nhân Viên Y Tế Tại Quận 5 Tphcm

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Đỗ Văn Dũng, Đặng Thị Ngọc Bích (2017), “Tỉ lệ hiện mắc thời khoảng 1 năm bệnh chàm tay của nhân viên y tế”, Tạp chí Y Học Thực Hành số2(1034) trang 205 – 207 2. Đỗ Văn Dũng, Đặng Thị Ngọc Bích (2017), “Các yếu tố nguy cơ trongbệnh chàm tay của nhân viên y tế”, Tạp chí Y Học Thực Hành số 2(1034)trang 102 – 104 3. Đỗ Văn Dũng, Đặng Thị Ngọc Bích (2018), “Hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đến hành vi phòng ngừa bệnh chàm tay ở nhân viên ytế”, Tạp chí Y Học Thực Hành số 11 (1085) trang 46 – 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO A. TIẾNG VIỆT 1. Bộ Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội (1998), Thông Tư Liên Tịch 08, 2. Đặng Thị Ngọc Bích (2008), Kiến Thức – Thái Độ – Thực Hành Và Tỉ Lệ Hiện Mắc Bệnh Chàm Bàn Tay Ở Thợ Hồ Tại Tổng Công Ty Xây Dựng – Thương Mại Số 3 TPHCM, Luận Án Tốt Nghiệp Chuyên Khoa Cấp IIDa Liễu, Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.70-83. 3. Bộ Y Tế (2014), “Cán Bộ Y Tế”, Tóm tắt số liệu thống kê y tế 2009-2013, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, tr.8. 4. Bộ Lao Động – Thương Binh Và Xã Hội (2012), Nghiên Cứu Phòng Chống Bệnh Nghề Nghiệp Và Những Bệnh Dự Kiến Được Bổ Sung, http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=16925, Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 5. Nguyễn Cảnh Cầu, Nguyễn Khắc Viện và cộng sự (2001), “Bệnh Da Nghề Nghiệp”, Giáo Trình Bệnh Da Và Hoa Liêu (dành cho đào tạo sau đạihọc), Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, tr. 231 – 236. 6. Nguyễn Cảnh Cầu, Nguyễn Khắc Viện và cộng sự (2001), “Eczema (Bệnh Chàm)”, Giáo Trình Bệnh Da Và Hoa Liêu (dành cho đào tạo sau đại học), Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, tr. 201 – 207. 7. Đỗ Văn Dũng (2012), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Đại học Y Dược, TPHCM, 8. Khương Văn Duy (2014), “Đại Cương Sức Khỏe Nghề Nghiệp”, trong sách: Bệnh Nghề Nghiệp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.7-13. 9. Đỗ Văn Hàm (2007), Sức Khỏe Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr. 10 – 14. 10. Đỗ Văn Hàm (2007), Vệ Sinh Lao Động Và Bệnh Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Lao Động-Xã Hội, tr. 3. 11. Trương Công Hòa (2006), “Suy Diễn Nguyên Nhân”, trong sách: Dịch Tể Học Cơ Bản, (bài giảng của bộ môn Dịch Tễ, khoa Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược TPHCM), tr. 164-171. 12. Lưu Ngọc Hoạt (2009), Lồng ghép nhiều thiết kế trong 1 nghiên cứu, Bài giảng của viện YHDP và YTCC, Đại học Y Hà Nội, 13. Nguyễn Duy Hưng (2012), Bệnh Da Nghề Nghiệp, Trang thông tin điện tử của Viện Da Liễu Trung Ương, 14. Trần Hậu Khang (2014), “Viêm Da Cơ Địa”, trong sách: Bệnh Học Da Liêu, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, tr. 75 – 83. 15. Vũ Đình Lập, và cộng sự (1992), “Bệnh Da Nghề Nghiệp”, trong sách: Bệnh Da Và Các Bệnh Lây Qua Đường Tình Dục, Bệnh Viện Da Liễu Xuất Bản, Sở Y Tế TPHCM, tr. 373 – 376. 16. Nguyễn Đỗ Nguyên (2006), “Cỡ mẫu”, trong sách: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Y Khoa, tr. 34-43. 17. Lê Hoàng Ninh (2011), Phương Pháp Chọn Mẫu Và Xác Định Cỡ Mẫu Trong Nghiên Cứu Y Học, Nhà Xuất Bản Y Học, TPHCM, tr. 63-65. 18. Sở Y Tế TPHCM (2015), Sơ Đồ Tổ Chức Ngành Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh, MEDINET-HCMC Mạng thông tin y tế TPHCM, http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/Pages/sdtc-y-tetp.aspx, truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 19. Trần Thiện Thuần (2015), Tâm Lý Học, Nhà xuất bản Y Học. Đại học Y Dược TPHCM, 20. Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (2013), ILO Kêu Gọi Thế Giới Hành Động Đẩy Lùi Bệnh Nghề Nghiệp, http://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/Press releases/WCMS_211709/lang-vi/index.htm, truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 21. Đặng Thị Tốn (2004), “Bệnh Chàm”, trong sách: Bài Giảng Bệnh Da Liêu, Nhà Xuất Bản Y Học, Thành Phố Hồ Chí Minh, tr. 295 – 306. 22. Đào Thị Tú Trinh (2013), Đặc Điểm Lâm Sàng, Các Yếu Tố Liên Quan Và Chất Lượng Cuộc Sống Ở Bệnh Nhân Chàm Bàn Tay, Bàn Chân Tại Bệnh Viện Da Liêu TPHCM, Luận Văn Thạc Sỹ Y Học, Đại Học Y Dược TPHCM, 23. Văn Thế Trung (2013), Chàm Thể Tạng – Những Điểm Mới Về Cơ Chế Sinh Học Và Khuynh Hướng Điều Trị Hiện Nay, Hội Y Học TPHCM, Báo cáo tại hội nghị khoa học thường niên lần 2 năm 2013, Thành Phố Hồ Chí Minh. 24. Lê Tử Vân, Xuyền Khúc (2002), “Bệnh Da Theo Nguyên Nhân Ngành Nghề”, trong sách: Bệnh Da Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr. 75-229. 25. Khúc Xuyền (2002), “Tầm Quan Trọng Của Bệnh Da Nghề Nghiệp”, trong sách: Bệnh Da Nghề Nghiệp, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr.

Tổng Hợp Các Loại Bệnh Liên Quan Đến Bạch Cầu

Rối loạn bạch cầu được chỉ định khi cơ thể có quá nhiều hoặc quá ít tế bào bạch cầu (WBCs hoặc bạch cầu) -một trong bốn thành phần của máu. Các tế bào này, được sản xuất trong tủy xương, tham gia vào các phản ứng viêm và đóng một vai trò quan trọng trong khả năng chống lại nhiễm trùng của hệ miễn dịch.

Một số rối loạn tế bào bạch cầu (chẳng hạn như giảm bạch cầu tự miễn dịch) là lành tính, trong khi những rối loạn khác (chẳng hạn như bênh bạch cầu(leukemia)) là ác tính. Những tình trạng này có thể ảnh hưởng đến cả người lớn và trẻ em.

Các triệu chứng rối loạn bạch cầu

Các triệu chứng của rối loạn bạch cầu khác nhau tùy thuộc vào loại bệnh, mặc dù một số người không có bất kỳ triệu chứng nào.

5 loại bạch cầu chính

Đây là những loại tế bào bạch cầu chính ở người:

Bạch cầu hạt trung tính: Chủ yếu chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn

Tế bào Lympho: Tế bào của hệ thống miễn dịch có chức năng bao gồm sản xuất kháng thể và chống lại những kẻ xâm lược bao gồm vi khuẩn, vi rút và tế bào ung thư

Bạch cầu đơn nhân: Có chức năng dọn dẹp các tế bào chết và các mảnh vụn và làm việc với các tế bào bạch huyết để nhận ra những kẻ xâm lược

Nguyên nhân

Rối loạn bạch cầu thuộc hai loại chính – rối loạn tăng sinh, nghĩa là tăng lượng bạch cầu và giảm bạch cầu

Những điều này có thể xảy ra khi có sự thay đổi trong sản xuất bạch cầu, có vấn đề với chức năng tế bào hoặc một vấn đề khác với một loại bạch cầu cụ thể. Lý do điều khiển đằng sau những sự kiện này có thể khác nhau tùy thuộc vào tình trạng rối loạn.

Rối loạn bạch cầu phổ biến và nguyên nhân của chúng bao gồm:

Tăng bạch cầu (Leukocytosis): Đây là tình trạng tăng số lượng bạch cầu. Các nguyên nhân có thể bao gồm nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc vi rút, một số loại thuốc nhất định, dị ứng, hút thuốc, bệnh viêm nhiễm, rối loạn tự miễn dịch, tình trạng di truyền và ung thư.

Bệnh bạch cầu (Leukemia): Đây là bệnh ung thư của các tế bào sản xuất bạch cầu trong tủy xương. Nguyên nhân có thể bao gồm khuynh hướng di truyền, hút thuốc và tiếp xúc với hóa chất hoặc bức xạ.

Giảm bạch cầu hạt trung tính bẩm sinh nghiêm trọng (Severe congenital neutropenia): Điều này xảy ra thứ phát do đột biến gen. Những người bị giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh nặng bị nhiễm trùng do vi khuẩn tái phát.

Giảm bạch cầu hạt trung tính theo chu kỳ (Cyclic neutropenia): Đây cũng là do đột biến gen. Sự giảm bạch cầu xảy ra theo chu kỳ khoảng 21 ngày.

Bệnh u hạt mãn tính: Đây là một rối loạn mà nhiều loại bạch cầu (bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân, đại thực bào) không thể hoạt động bình thường. Đây là một tình trạng di truyền và dẫn đến bội nhiễm, đặc biệt là viêm phổi và áp xe.

Thiếu kết dính bạch cầu (hội chứng LAD): Đây là những rối loạn di truyền hiếm gặp, nơi các tế bào bạch cầu không thể di chuyển đến các khu vực nhiễm trùng.

Chẩn đoán

Cũng như các rối loạn về máu khác, xét nghiệm đầu tiên thường được thực hiện là công thức máu toàn bộ (CBC)

Xét nghiệm này có thể được chỉ định cụ thể vì bạn đang bị nhiễm trùng tái phát hoặc bất thường và bác sĩ nghi ngờ bạn bị rối loạn bạch cầu. Nhưng vì CBC cũng được thực hiện như một phần của kiểm tra sức khỏe hàng năm, nên xét nghiệm này có thể tình cờ phát hiện ra tình trạng như vậy.

Khi xem xét kết quả, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn sẽ tìm kiếm sự thay đổi trong tổng số lượng bạch cầu của bạn hoặc số lượng của một loại bạch cầu cụ thể. Kết quả của bạn sẽ được so sánh với phạm vi tham chiếu thích hợp cho số lượng bạch cầu. Chúng có thể khác nhau giữa các phòng thí nghiệm, nhưng trung bình là như sau:

Đàn ông: 5.000 đến 10.000 WBC trên mỗi microlít máu

Phụ nữ: 4.500 đến 11.000 WBC trên mỗi microlít máu

Trẻ em (từ trẻ sơ sinh đến vị thành niên): 5.000 đến 10.000 WBC trên mỗi microlít máu

Trẻ sơ sinh (dưới 2 tuần tuổi): 9.000 đến 30.000 WBC trên mỗi microlít máu

Nếu kết quả của bạn cao hơn hoặc thấp hơn bình thường, bác sĩ sẽ làm việc để xác định lý do tại sao. Đôi khi nguyên nhân chỉ là tạm thời, chẳng hạn như số lượng bạch cầu tăng cao trong quá trình nhiễm trùng đang hoạt động. Trong những trường hợp này, CBC thường được lặp lại để đảm bảo rằng mọi thứ đã trở lại bình thường.

Bác sĩ của bạn cũng có thể yêu cầu xét nghiệm phết máu – một xét nghiệm trong đó một lượng nhỏ máu được đặt trên lam kính để các chuyên gia phòng thí nghiệm có thể kiểm tra tế bào máu của bạn dưới kính hiển vi để tìm những bất thường có thể chỉ ra một chứng rối loạn (và nguyên nhân của nó).

Nếu bạn cần đánh giá thêm, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc chính của bạn có thể giới thiệu bạn đến một chuyên gia. Rối loạn bạch cầu thường được điều trị bởi các bác sĩ huyết học chuyên về rối loạn máu hoặc bác sĩ miễn dịch chuyên về các rối loạn của hệ thống miễn dịch.

Vì tế bào bạch cầu được tạo ra trong tủy xương, nên sinh thiết tủy xương có thể cần thiết để hoàn thành công việc

Điều trị

Điều trị rối loạn bạch cầu phụ thuộc phần lớn vào loại rối loạn và bất kỳ nguyên nhân cơ bản nào. Những người bị rối loạn bạch cầu cần được theo dõi thường xuyên để đảm bảo chế độ điều trị của họ có hiệu quả.

Các phương pháp điều trị có thể bao gồm:

Yếu tố kích thích khuẩn lạc (CSF) hoặc yếu tố tăng trưởng: Thuốc có thể kích thích sản xuất tế bào bạch cầu trong tủy xương

Cấy ghép tế bào gốc: Có thể được sử dụng để chữa bệnh trong một số trường hợp

Truyền bạch cầu hiếm khi được sử dụng vì nghiên cứu không cho thấy rằng chúng làm giảm nguy cơ tử vong hoặc nhiễm trùng ở những người bị rối loạn bạch cầu.

*Nguồn: Wellhealth

Đặt lịch hẹn khám, tư vấn bác sĩ Nhi khoa, Đa khoa tại FMP:

Tel: 024 3843 0748 (24/7)

Địa chỉ: 298i Kim Ma, Ba Dinh, Hanoi

Email: hanoi@vietnammedicalpractice.com

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Bệnh Liên Quan Đến Thận trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!