Xu Hướng 9/2023 # Lupus Ban Đỏ Hệ Thống (Sle) # Top 12 Xem Nhiều | Zqnx.edu.vn

Xu Hướng 9/2023 # Lupus Ban Đỏ Hệ Thống (Sle) # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Lupus Ban Đỏ Hệ Thống (Sle) được cập nhật mới nhất tháng 9 năm 2023 trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là một bệnh lý viêm tự miễn mạn tính có biểu hiện bệnh ở nhiều hệ cơ quan, xảy ra chủ yếu ở phụ nữ trẻ tuổi. Các biểu hiện thông thường có thể bao gồm đau khớp, hội chứng Raynaud, ban gò má và các ban khác, viêm màng phổi và viêm màng ngoài tim, tổn thương thận hoặc thần kinh trung ương, giảm các dòng tế bào máu. Chẩn đoán dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng và huyết thanh học. Điều trị bệnh ở thể nặng, đang tiến triển, hoạt động cần phải dùng corticosteroid và đôi khi là ác thuốc ức chế miễn dịch.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Các tổn thương da bao gồm ban đỏ cánh bướm ở gò má (ban phẳng hoặc sần) làm mất rãnh mũi má. Sự vắng mặt của nốt sẩn và mụn mủ giúp phân biệt SLE với trứng cá đỏ. Một dạng ban đỏ khác, là các nốt phẳng hoặc sẩn có thể gặp ở nhiều nơi trên cơ thể, bao gồm các vùng tiếp xúc với ánh nắng của mặt và cổ, ngực trên và khuỷu tay. Hiếm khi gặp phồng rộp da và loét da, mặt dù hay gặp các vết loét tái phát ở niêm mạc ( đặc biệt ở vùng trung tâm của vòm miệng, gần vùng nối giữa vòm cứng và vòm mềm, niêm mạc má và lợi, và vách mũi trước), đôi khi được gọi là biểu hiện niêm mạc của bệnh luput; các tổn thương này đôi lúc giống với hoại tử biểu bì do nhiễm độc.

Rụng tác lan tỏa hoay từng mảng hay gặp ở giai đoạn hoạt động của SLE. Viêm mô mỡ có thể gây nên những nốt tổn thương dưới da (đôi khi gọi là viêm mô mỡ của bệnh luput). Các tổhan thương da của viêm mạch thường có các ban đỏ lấm chấm ở bàn tay và các ngón tay, ban đỏ quanh móng tay, hoại tử nếp gấp móng, mày đay và ban xuất huyết có thể sờ thấy được. Ban xuất huyết có thể xuất hiện thứ phát sau hạ tiểu cầu. Mẫn cảm với ánh sáng gặp ở một số bệnh nhân.

Lupus ban đỏ tumidus có đặc điểm là các mảng lớn màu hồng không để lại sẹo và/hoặc các nốt sần, đôi khi là các ban vòng ở các vùng tiếp xúc với ảnh sáng.

Bệnh lupus Chilblain có đặc điểm là các nốt đau, có màu đỏ tươi tới màu đỏ sẫm ở ngón tay, ngón chân, mũi, tai xuất hiện khi thời tiết lạnh. Một số bệnh nhân SLE có mảng liken phẳng.

Các biểu hiện sản khoa bao gồm mất thai ở giai sớm và muộn. Ở bệnh nhân có kháng thể kháng phospholipid, nguy cơ sảy thai tái phát tăng lên. Mang thai có thể thành công (xem Lupus ban đỏ hệ thống khi mang thai), đặc biệt là sau 6 đến 12 tháng lui bệnh, nhưng thường có các đợt cấp trong quá trình mang thai và giai đoạn sau sinh. Nên bắt đầu mang thai khi đạt được lui bệnh. Trong thời kỳ mang thai, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu về đợt cấp hoặc các triệu chứng huyết khối và được theo dõi bởi đội ngũ bác sỹ nhiều chuyên khoa bao gồm cả bác sỹ sản khoa chuyên khoa sâu về thai nghén có nguy cơ cao. Phụ nữ có kháng thể SSA dương tính nên có siêu âm tuần thai ở tuần 18 và tuần 26 để đánh block tim bẩm sinh.

Các biểu hiện huyết học bao gồm thiếu máu (tan máu tự miễn), giảm bạch cầu (thường là giảm bạch cầu lympho, với < 1500 tế bào /μL) và giảm tiểu cầu (đôi khi gặp tình trạng giảm tiểu cầu giảm tự miễn nguy hiểm). Huyết khối động mạch hay tĩnh mạch tái phát, giảm tiểu cầu và có nguy cơ cao xảy ra các biến chứng sản khoa ở bệnh nhân có kháng thể kháng phospholipid. Huyết khối có thể gây nên nhiều biến chứng của SLE, bao gồm các biến chứng sản khoa. Hội chứng kích hoạt đại thực bào có thể xảy ra.

Biểu hiện của đường tiêu hóa có thể do viêm mạch ở ruột hoặc giảm nhu động ruột. Ngoài ra, viêm tụy có thể là một triệu chứng của SLE hoặc là hậu quả của điều trị corticosteroid liều cao hoặc azathioprine. Các biểu hiện có thể bao gồm đau bụng do viêm huyết thanh, buồn nôn, nôn mửa, biểu hiện thủng ruột, và giả tắc ruột. SLE hiếm khi gây ra tổn thương ở nhu mô gan.

Xét nghiệm giúp phân biệt SLE từ các bệnh mô liên kết khác. Xét nghiệm thường quy bao gồm:

Hầu hết các bác sĩ lâm sàng đều dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán SLE của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn của Hiệp hội các trung tâm lâm sàng quốc tế về bệnh Luput hệ thống (SLICC), do một nhóm chuyên gia về SLE xây dựng, hiện tại hay được sử dụng hơn.( 1). Việc chẩn đoán SLE theo các tiêu chuẩn của SLICC yêu cầu một trong hai điều sau:

Tiêu chuẩn SLICC để chẩn đoán SLE *

Giảm tiểu cầu (<100.000 / mm 3) trong ít nhất một mẫu xét nghiệm khi không có các nguyên nhân khác được biết đến như thuốc, huyết áp kịch phát, và ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối

Kháng thể Antiphospholipid dương tính khi:

Kết quả xét nghiệm dương tính khi yếu tố chống đông lupus dương tính

Kết quả dương tính giả khi làm test huyết thanh giang mai

Tăng nồng độ kháng thể kháng cardiolipin (loại IgA, IgG hoắc IgM) mức độ trung bình hoặc cao.

Kết quả xét nghiệm dương tính với kháng beta 2-glycoprotein I (IgA, IgG, hoặc IgM)

* Để chẩn đoán phải đạt ít nhất 4 trong số 17 tiêu chí, bao gồm ít nhất 1 tiêu chí lâm sàng và 1 tiêu chí miễn dịch hoặc viêm thận lupus đã được chứng minh bằng sinh thiết.

Được điều chỉnh từ Petri M, Orbai AM, Alarcón GS, et al: Xây dựng và xác nhận Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Lupus ban đỏ hệ thống của Hiệp hội quốc tế các trung tâm lâm sàng về bệnh Luput ban đỏ. Viêm khớp 64(8):2677-2686, 2012.

Các xét nghiệm khác giúp theo dõi mức độ nặng của bệnh và định hướng điều trị. Nồng độ bổ thể trong huyết thanh (C3, C4) thường giảm khi bệnh ở giai đoạn hoạt động và thường thấp nhất ở bệnh nhân viêm thận hoạt động. Máu lắng tăng trong giai đoạn hoạt động của bệnh. Nồng độ protein phản ứng C không phải luôn tăng cao.

1. Petri M, Orbai AM, Alarcón GS, et al: Xây dựng và xác nhận Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Lupus ban đỏ hệ thống của Hiệp hội quốc tế các trung tâm lâm sàng về bệnh Luput ban đỏ. Viêm khớp 64(8):2677-2686, 2012. doi: 10.1002 / art.34473.

Hydroxychloroquine cho tất cả các bệnh nhân bị SLE

Để điều trị đơn giản, SLE nên được phân loại là nhẹ (ví dụ như sốt, viêm khớp, viêm màng ngoài tim, nhức đầu, phát ban) hoặc nặng (ví dụ như chứng thiếu máu tan máu, xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối, tràn dịch màng phổi và màng ngoài tim, suy thận nặng, viêm mạch cấp tính ở chi hoặc đường tiêu hóa, tổn thương thần kinh trung ương, chảy máu phế nang lan tỏa).

Thuốc chống sốt rét hydroxychloroquine được chỉ định cho tất cả các bệnh nhân bị SLE ở bất kỳ mức độ nặng nào của bệnh vì thuốc làm giảm đợt cấp và giảm nguy cơ tử vong của bệnh ( 1); tuy nhiên, hydroxychloroquine không được sử dụng ở bệnh nhân Thiếu G6PD bởi vì nó có thể gây tan huyết.

Điều trị bao gồm các phác đồ kiểm soát biểu hiện nặng cấp tính, sau đó là phác đồ duy trì. Corticosteroids là thuốc điều trị đầu tiên. Kết hợp prednisone và các thuốc ức chế miễn dịch khác thường được sử dụng trong lupus có tổn thương thần kinh trung ương nặng, hoạt động, viêm thanh mạc tái phát, viêm mạch, tổn thương da không đáp ứng với hydroxychloroquine, chảy máu phế nang lan tỏa, triệu chứng tim hoặc viêm thận luput hoạt động.

Các biến chứng với các bằng chứng mạnh nhất cho viêm thận luput. Methylprednisolone 1 g bằng cách truyền tĩnh mạch chậm (1 giờ) trong 3 ngày thường là điều trị ban đầu. Sau đó, uống duy trì prednisone liều 40 đến 60 mg một lần / ngày, nhưng liều có thể thay đổi theo biểu hiện của SLE. Cyclophosphamide hoặc mycophenolate mofetil (đặc biệt là ở người da đen) thường được chỉ định. Khi bị tổn thương thận nặng, cyclophosphamide thường được chỉ định truyền tĩnh mạch ngắt quãng thay vì uống hàng ngày, ví dụ truyền với liều khoảng 500mg-1g/ m 2 (kết hợp với mesna và dịch để ngăn ngừa viêm bàng quang do thuốc) hàng tháng trong vòng 6 tháng và sau đó là 3 lần trong 18 tháng (tần suất ít hơn nếu có độc tính về thận hoặc máu-xem Bảng: Quy trình truyền tĩnh mạch Cyclophosphamide và Mesna ).

Quy trình truyền tĩnh mạch Cyclophosphamide và Mesna

Giám sát liên tục sự dung nạp thuocs trong toàn bộ quy trình truyền.

1.   Sử dụng 50 mL dung dịch muối sinh lý bình thường, trộn 10mg ondansetron và 10mg dexamethasone 10 mg và truyền tĩnh mạch trong 10 đến 30 phút.

2.   Sử dụng 250 mL dung dịch muối sinh lý bình thường, trộn với 250-500 mg mesna (dùng để kết hợp acrolein, chất chuyển hoá của cyclophosphamide gây kích thích bàng quang) và pha thêm 500-1000 mL dung dịch muối sinh lý để truyền trước khi truyền cyclophosphamide.

3.   Dùng 250 mL dung dịch muối sinh lý , trộn với cyclophosphamide liều 500-1000 mg / m 2 và truyền qua 1 h.

4.   Dùng 250 mL dung dịch muối sinh lý bình thường, trộn với mesna 250-500 mg và tiêm liều thứ hai mesna. Tổng liều mesna sử dụng nên bằng với tổng liều cyclophosphamide . Bệnh nhân nên được khuyến khích uống nhiều nước và để bàng quang trống rỗng mỗi 2 giờ. Bệnh nhân phải uống ondansetron 8 mg vào sáng hôm sau.

Trong lupus có tổn thương thần kinh trung ương, khuyến cáo điều trị dựa vào giai đoạn. và thường dùng cyclophosphamide hoặc IV rituximab.

Đối với giảm tiểu cầu kháng thuốc, truyền tĩnh mạch IgG 400 mg / kg một lần / ngày trong 5 ngày liên tiếp có thể có hiệu quả, đặc biệt nếu không được dùng corticosteroid liều cao (ví dụ như ở bệnh nhân bị nhiễm trùng hoạt động).

Bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối có thể được chỉ định ghép thận, một liệu pháp thay thế chạy thận, với tỷ lệ thành công cao, đặc biệt nếu bệnh đã được thuyên giảm.

Cải thiện mức độ nặng của SLE thường đạt được sau 4 đến 12 tuần điều trị. Huyết khối hoặc tắc mạch não, mạch phổi hay mạch tạng thường cần phải điều tị bằng heparin ngắn ngày và điều trị kéo dài hơn với warfarin. Nếu chẩn đoán hội chứng chống phospholipid, thường phải điều trị cả đời. Mục tiêu INR thường là 2 đến 3.

Phụ nữ mang thai nên duy trì hydroxychloroquine trong suốt thai kỳ, và aspirin liều thấp cũng được khuyến cáo. Khi có biểu hiện lâm sàng của hội chứng kháng phospholipid, như có huyết khối trước đó, nên dùng liệu pháp chống đông máu với heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc không phân đoạn. Nếu phụ nữ có thai có kháng thể kháng phospholipid dương tính và bị thai lưu hoặc sẩy thai ở 2 tháng đầu, có thể dự phòng bằng heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc không phân đoạn trong suốt thai kỳ và 6 tuần sau sinh. Khi bệnh nhân có huyết thanh dương tính nhưng trước đó không có các biến chứng sản khoa hay huyết khối, các khuyến cáo dùng thuốc chống đông thường ít rõ ràng. Sự kết hợp điều trị và theo dõi của các bác sỹ thuộc 3 chuyên khoa: huyết học, sản và khớp là rất quan trọng ở những bệnh nhân này.

1. Alarcón GS, McGwin G, Bertoli AM, et al: Ảnh hưởng của hydroxychloroquine đến sự sống còn của bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống: Số liệu từ LUMINA, một nghiên cứu đa trung tâm Hoa Kỳ (LUMINA L). Ann Rheum Dis 66(9):1168-1172, 2007. doi: 10.1136 / ard.2006.068676.

Điều trị tất cả các bệnh nhân bằng hydroxychloroquine hoặc thuốc sốt rét khác và, đối với bệnh nhẹ, dùng NSAIDs nếu cần.

Sử dụng corticosteroids cho SLE mức độ hoạt động vừa hoặc nặng và dùng thuốc ức chế miễn dịch cho viêm thận lupus hoạt động, lupus trung ương, biểu hienj da không đáp ứng với hydroxychloroquine, xuất huyết phế nang lan tỏa, viêm mạch, viêm thanh mạc tái phát, hoặc tổn thương tim.

DLE, đôi khi còn được gọi là lupus đỏ da mãn tính, có các thay đổi ở da như là một triệu chứng của luput nhưng không có tổn thương hệ thống khác. Các tổn thương da bắt đầu như những mảng hồng ban và tiến triển thành các sẹo teo da. Tổn thương tập trung thành từng mảng ở những vùng da tiếp xúc với ánh sáng như mặt, da đầu và tai. Nếu không điều trị, tổn thương lan rộng và phát triển tới vùng trung tâm thân mình gây teo da và sẹo. Có thể có rụng tóc lan tỏa. Tổn thương niêm mạc có thể nổi bật, đặc biệt là trong miệng. Đôi khi các tổn thương có thể phì đại và có thể giống với liken phẳng (gọi là lupus khổng lồ).

Bệnh nhân có ban dạng đĩa điển hình nên được làm thêm các xét nghiệm về bệnh SLE. Kháng thể kháng dsDNA hầu như âm tính trong DLE. Mặc dù nó không có khác biệt DLE với SLE, nhưng sinh thiết có thể loại trừ các rối loạn khác (ví dụ, u lymphoma hoặc sarcoidosis). Sinh thiết ở bờ các tổn thương da hoạt động.

Điều trị sớm DLE có thể ngăn ngừa tổn thương teo da vĩnh viễn. Nên hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc tia cực tím (ví dụ sử dụng kem chống nắng mạnh khi ở ngoài trời). Bôi thuốc corticosteroid dạng mỡ tại chỗ (đặc biệt đối với da khô) hoặc kem (ít dầu nhờn hơn so với thuốc mỡ)từ hai tới 4 lần một ngày (ví dụ triamcinolone acetonide 0.1 hoặc 0.5%, fluocinolone 0.025 hoặc 0.2%, flurandrenolit 0.05%, betamethasone valerate 0.1% và đặc biệt là betamethasone dipropionate 0,05%) thường gây ra các tổn thương nhỏ trên da; không nên dùng các thuốc này quá nhiều ở mặt (vì có thể gây teo da). Các vết thương dai dẳng có thể được phủ bằng băng nhựa tráng với flurandrenolit. Ngoài ra, có thể tiêm trong dai triamcinolone acetonide 0.1% tác dụng kéo dài (< 0.1 mL /một vị trí) có thể giải quyết các tổn thương, nhưng teo da thứ phát thường xảy ra. Thuốc chống sốt rét (ví dụ, hydroxychloroquine 5 mg / kg uống một lần / ngày hoặc 2,5 mg / kg uống hai lần/ngày) có hiệu quả điều trị, bao gồm các tổn thương ở mặt. Trong những trường hợp kháng thuốc, có thể cần phải phối hợp thuốc (ví dụ, hydroxychloroquine 200 mg / ngày với quinacrine 50 đến 100 mg uống một lần / ngày) trong nhiều năm.

SCLE là một dạng biến thể của SLE, có tổn thương dạng nốt sần ở da. Bệnh nhân mắc chứng SCLE có các ban tái phát nhiều lần. Ban vòng hoặc dạng vảy có thể xuất hiện ở mặt, cánh tay và thân mình. Các tổn thương thường nhạy cảm với ánh sáng và có thể giảm sắc tố nhưng ít khi để lại sẹo. Viêm khớp và mệt mỏi hay gặp ở SCLE, nhưng không có biểu hiện thần kinh và thận. Bệnh nhân có thể có kháng thể kháng nhân dương tính hoặc âm tính. Hầu hết đều có kháng thể kháng Ro (SSA). Trẻ sơ sinh có mẹ có kháng thể Ro có thể có SCLE bẩm sinh hoặc block tim bẩm sinh. SCLE được điều trị giống như SLE.

Bệnh Lupus Ban Đỏ Hệ Thống (Sle)

Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý của mô liên kết có tổn thương nhiều cơ quan do hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn, đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều tự kháng thể khác. Các cơ quan thường bị tổn thương bao gồm khớp, da, thận, tế bào máu, tim, phổi, thần kinh…

2. NGUYÊN NHÂN

Chủ yếu gặp thể bán cấp:

– Tỉ lệ mắc bệnh nữ: nam= 9:1, chủ yếu ở độ tuổi 20-30.

– Khởi phát: Đa số bắt đầu từ từ, tăng dần với sốt dai dẳng không rõ nguyên nhân, đau khớp hoặc viêm khớp với biểu hiện tương tự trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Có một số yếu tố thuận lợi khởi phát bệnh: nhiễm trùng, chấn thương, stress, thuốc…

– Toàn phát: tổn thương nhiều cơ quan:

+ Toàn thân: sốt dai dẳng kéo dài, mệt mỏi, gầy sút.

+ Cơ xương khớp: đau hoặc viêm các khớp với biểu hiện tương tự trong bệnh viêm khớp dạng thấp song hiếm khi biến dạng khớp; đau cơ. Một số hiếm trường hợp có hoại tử xương (thường gặp hoại tử vô mạch đầu trên xương đùi).

+ Da niêm mạc: ban đỏ hình cánh bướm ở mặt (rất thường gặp), ban dạng đĩa (gặp trong thể mạn tính), nhạy cảm với ánh sáng (cháy, bỏng, xạm da sau khi tiếp xúc với ánh nắng), loét niêm mạc miệng, niêm mạc mũi, rụng tóc, viêm mao mạch dưới da..

+ Máu và cơ quan tạo máu: thiếu máu do viêm, thiếu máu huyết tán, chảy máu dưới da (do giảm tiểu cầu), lách to, hạch to.

+ Thần kinh tâm thần: rối loạn tâm thần, động kinh…

+ Tuần hoàn, hô hấp: thường gặp các triệu chứng tràn dịch màng tim, màng phổi, tăng áp lực động mạch phổi, viêm phổi kẽ. Các triệu chứng hiếm gặp: viêm cơ tim, viêm nội tâm mạc , hội chứng Raynaud, viêm tắc động mạch, tĩnh mạch…

+ Thận: rất thường gặp: protein niệu, tế bào trụ niệu, hội chứng thận hư, viêm cầu thận…

+ Gan: cổ trướng, rối loạn chức năng gan (hiếm gặp).

+ Mắt: giảm tiết nước mắt (Hội chứng Sjogren), viêm giác mạc, viêm kết mạc, viêm võng mạc.

3.2. Cận lâm sàng

– Các xét nghiệm không đặc hiệu: tế bào máu ngoại vi (giảm hồng cầu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu), tốc độ lắng máu tăng, điện di huyết thanh (g globulin tăng), tìm thấy phức hợp miễn dịch trong máu, phản ứng BW (+) giả…

– Các xét nghiệm đặc hiệu: kháng thể kháng nhân (ANA), kháng thể kháng Ds- DNA, kháng thể chống các kháng nguyên hòa tan, kháng thể kháng hồng cầu, kháng lympho bào, kháng tiểu cầu…, giảm bổ thể, giảm tỉ lệ lympho bào so với tế bào B.

– Sinh thiết các cơ quan tổn thương:

+ Sinh thiết da: lắng đọng globulin miễn dịch IgM, IgG và bổ thể thànhmột lớp thượng bì và trung bì của da (+70%).

+ Thận: viêm cầu thận, dày màng đáy do lắng đọng IgG, IgM và bổ thể.

+ Màng hoạt dịch khớp: tổn thương gần tương tự viêm khớp dạng thấp.

3.3. Chẩn đoán xác định

Áp dụng tiêu chuẩn của Hội Thấp học Mỹ ACR 1982 (bổ sung và điều chỉnh năm 1997), gồm 11 yếu tố:

– Ban đỏ hình cánh bướm ở mặt.

– Ban đỏ dạng đĩa ở mặt và than.

– Nhạy cảm với ánh sang.

– Loét miệng hoặc mũi họng.

– Viêm khớp và đau khớp không có phá hủy khớp.

– Viêm đa màng: màng phổi, màng tim.

– Tổn thương thần kinh: co giật hoặc các rối loạn tâm thần không do thuốc và các nguyên nhân khác như rối loạn điện giải, tăng urê máu, nhiễm toan ceton…

– Rối loạn về máu:

(a) Thiếu máu huyết tán có tăng hồng cầu lưới, hoặc

(b) Giảm bạch cầu < 4.000/mm3, hoặc

(c) Giảm bạch cầu lympho < 1.500/mm3, hoặc

(d) Giảm tiểu cầu < 100.000/mm3 không do thuốc.

– Rối loạn về miễn dịch:

+ Kháng thể kháng Ds-DNA (+), hoặc

+ Kháng thể kháng Sm (+), hoặc

Chẩn đoán xác định khi có từ 4 yếu tố trở lên.

Gần đây, năm 2012, những trung tâm cộng tác quốc tế về lupus hệ thống năm (Systemic International Collaborating Clinics – SLICC 2012) đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Lupus ban đỏ hệ thống gồm:

1. Lupus da cấp

2. Lupus da mạn

3. Loét miệng hay mũi

4. Rụng tóc không sẹo

5. Viêm khớp

6. Viêm thanh mạc

7. Thận (Không được tính khi có

8. Thần kinh sự tồn tại của thiếu máu

9. Thiếu máu tan huyết tan huyết)

10. Giảm bạch cầu

11. Giảm tiểu cầu (<100.000/mm3)

1. ANA

2. Anti-DNA

3. Anti-Sm

4. KT Antiphospholipid

5. Giảm bổ thể (C3, C4)

6. Test Coombs trực tiếp

Không được tính khi có sự tồn tại của thiếu máu tan huyết

Chẩn đoán lupus ban đỏ hệ thống khi có ≥ 4 tiêu chuẩn (có ít nhất một tiêu chuẩn lâm sàng và một tiêu chuẩn cận lâm sàng) hoặc bệnh thận lupus được chứng minh trên sinh thiết kèm với ANA hoặc anti-DNA.

3.4. Phân loại thể

– Thể cấp: tổn thương nhiều nội tạng và nặng.

– Thể mạn: ít tổn thương nội tạng, biểu hiện ngoài da nhẹ.

– Thể bán cấp: trung gian giữa hai thể trên.

– Thể hỗn hợp: hội chứng Sharp: thể bệnh hỗn hợp giữa lupus và xơ cứng bì, có các triệu chứng: viêm nhiều khớp, hội chứng Raynaud, ngón tay hình khúc dồi, hẹp thực quản, viêm đa.

3.5. Chẩn đoán phân biệt

– Thấp khớp cấp.

– Các bệnh thuộc nhóm bệnh mô liên kết khác: Viêm khớp dạng thấp, xơ cứng bì toàn thể, viêm đa cơ, viêm da cơ…

– Các bệnh lí của hệ tạo máu: suy tủy, xuất huyết giảm tiểu cầu các nguyên nhân khác.

– Các bệnh lí thận, tim, phổi mạn tính do các nguyên nhân khác.

4.1. Nguyên tắc chung

– Đánh giá mức độ nặng của bệnh.

– Điều trị bao gồm: giai đoạn tấn công, củng cố và duy trì.

– Cân nhắc cẩn thận giữa tác dụng mong muốn và tác dụng phụ của mỗi loại thuốc.

4.2. Điều trị cụ thể

– Thuốc kháng viêm không steroid: trong các trường hợp lupus kèm viêm đau khớp, sốt và viêm nhẹ các màng tự nhiên nhưng không kèm tổn thương các cơ quan lớn. Nên tránh dùng ở các bệnh nhân viêm thận đang hoạt động.

– Hydroxychloroquine 200mg/ngày đáp ứng tốt với các trường hợp có ban, nhạy cảm với ánh sáng, đau hoặc viêm khớp, biến chứng ở mắt rất hiếm (theo dõi: khám mắt 1 lần/năm).

– Liệu pháp glucocorticoid: dùng đường toàn thân.

Chỉ định: lupus ban đỏ có đe dọa tính mạng như có tổn thương thần kinh, giảm tiểu cầu, thiếu máu huyết tán hoặc lupus ban đỏ không đáp ứng với các biện pháp điều trị bảo tồn.

Liều dùng:

+ 1-2mg/kg đường uống. Khi bệnh kiểm soát tốt, giảm liều prednisolone 10% mỗi 7-10 ngày.

+ Dùng methylprednisolone đường tĩnh mạch 500mg mỗi 12 giờ trong 3-5 ngày được dùng trong các trường hợp tổn thương thận tiến triển nhanh, tổn thương thần kinh nặng và giảm tiểu cầu nặng. Sau đó chuyển sang dùng corticoid bằng đường uống và giảm liều tương tự như trên.

– Liệu pháp dùng các thuốc ức chế miễn dịch khác:

Chỉ định: Lupus ban đỏ thể nặng có khả năng đe dọa tính mạng như viêm cầu thận cấp nặng, có tổn thương thần kinh, giảm tiểu cầu và thiếu máu huyết tán hoặc lupus không đáp ứng với corticoid hoặc xuất hiện tác dụng phụ nặng của corticoid.

Liều dùng: có nhiều loại thuốc có thể sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với nhau, hoặc với corticoid.

+ Cyclophosphamide: 0,5- 1g/m2 da, đường tĩnh mạch 3-4 tuần/ lần trong 6-7 tháng hoặc 1,0-5,0 mg/kg/ngày đường uống. Cần phối hợp với mesna (mercapto – ethanesulphonic acid) để dự phòng biến chứng tại bàng quang.

+ Dapsone 100mg/ngày (ít sử dụng).

+ Azathioprine (2-2,5mg/kg/ngày), mycophenolate mofetil (500-1500mg), đây là nhóm thuốc hiện đang được ưa chuộng vì ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, thích hợp với các phụ nữ còn độ tuổi sinh đẻ, tuy nhiên giá thành tương đối cao.

+ Methotrexate 7,5-20 mg/tuần.

+ Các thuốc khác: leflunomide, liệu pháp hormon, thalidomide, truyền tĩnh mạch immunoglobulin liều cao…

+ Chế phẩm sinh học: rituximab (mab Thera) là thuốc ức chế tế bào B với liều mỗi năm một lần gồm hai đợt mỗi đợt truyền hai lần cách nhau hai tuần với liều 500-1000mg/lần. Cần sàng lọc lao, viêm gan và các bệnh nhiễm khuẩn nặng trước khi điều trị sinh học cho bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống.

4.3. Điều trị không dùng thuốc

Chủ yếu là đối với thể nhẹ, bao gồm: nghỉ ngơi, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng, dự phòng nhiễm khuẩn, giáo dục bệnh nhân hiểu rõ về bệnh.

Một số trường hợp tổn thương suy thận nặng có thể phải lọc máu hoặc ghép thận.

5. TIẾN TRIỂN- BIẾN CHỨNG 5.1. Tiến triển

– Thể cấp: tiến triển nhanh và tử vong sau vài tháng.

– Thể mạn: tiến triển chậm, tiên lượng tốt.

– Thể bán cấp: tiến triển từng đợt, ngày càng nặng dần. Bệnh nặng thêm nếu có thai, nhiễm khuẩn, chấn thương, phẫu thuật, stress, lạm dụng thuốc. Thời gian sống trung bình 5 – 10 năm.

– Hội chứng Sharp: ít biểu hiện ở nội tạng nên tiên lượng tốt hơn.

5.2. Biến chứng

Nhiễm trùng cơ hội, suy thận mạn, tổn thương não – mạch máu…

6. PHÒNG BỆNH

– Cẩn thận khi sử dụng một số thuốc dễ gây mẫn cảm, nhất là kháng sinh như procainamide, hydralazine, minocycline, diltiazem, penicillamine, INH, quinidine, methyldopa….

– Đề phòng các đợt nhiễm khuẩn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Anisur Rhaman và CS (2008), “Mechanism of SLE”, The New England journal of medicine, pp.929-939

2. John H. Klippel và CS (2008), “Systemic Lupus Erythematosus”, Primer on the rheumatic diseases, edition 13, pp. 303-338.

3. Hồ Văn Lộc (2009), “Giáo trình chuyên ngành cơ xương khớp” Đại học Y Dược Huế, tr. 60-67.

4. Nguyễn Vĩnh Ngọc (2009), “Chẩn đoán và điều trị những bệnh cơ xương khớp”, Nhà xuất bản Y học, tr. 124-137.

5. Subramanian Shankar, Mạ Abhishek Pathak, “Redefining Lupus in 2012”,

Chapter 99.6.2012 SLICC SLE Criteria.Rheum Tutor.com

Bệnh Lupus Ban Đỏ Hệ Thống

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn, trong đó hệ thống miễn dịch của con người tấn công chính những cơ quan và các tế bào của cơ thể.

1. Bệnh Luspus ban đỏ là gì

2. Triệu chứng của bệnh Lupus ban đỏ

3. Tác hại của bệnh Lupus bạn đỏ

4. Nguyên nhân gây ra bệnh Lupus ban đỏ

5. Điều trị bệnh Lupus ban đỏ

6. Phòng chống bệnh Lupus bạn đỏ

7. Bác sĩ điều trị

8. Chia sẻ của bệnh nhân

Lupus hay còn được gọi là lupus ban đỏ hệ thống (tên tiếng Anh là SLE- Systemic Lupus Erythematosus) là bệnh lý mô liên kết và gây tổn thương đến nhiều cơ quan do hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn. Lupus đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều tự kháng thể khác. Các cơ quan thường bị tổn thương bao gồm khớp, da, thận, tế bào máu, tim, phổi, thần kinh…

Đau hoặc sưng khớp: những khớp nhỏ ở tay và cổ tay thường sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, mặc dù tất cả các khớp đều có nguy cơ.

Đau cơ: đây cũng là một biểu hiện khá điển hình của bệnh Lupus.

Sốt không rõ nguyên nhân: bệnh nhân có những cơn sốt mà không tìm ra được nguyên nhân

Xuất hiện ban đỏ: các ban đỏ này thường xuất hiện trên mặt, một số trường hợp xuất hiện trên mặt.

Đau ngực khi hít thở sâu: khi hít vào bệnh nhân có cảm giác đau.

Rụng tóc, loét miệng cũng là những triệu chứng có thể xảy ra.

Ngón tay hoặc ngón chân bị tái nhợt hoặc tím bầm.

Bệnh nhân trở nên nhạy cảm với ánh nắng mặt trời.

Sưng ở chân hoặc quanh mắt

Cảm thấy rất mệt mỏi.

Hãy đi khám bác sĩ nếu bạn bị phát ban, sốt không ngừng, đau nhức kéo dài hoặc mệt mỏi. Việc chữa trị sớm sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn cho bạn.

Bệnh Lupus gây ra những hậu quả khôn lường cho người mắc phải nó, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người bệnh:

Các khớp bị sưng gây ra cho người bệnh cảm giác đau đớn, khó cử động cùng với đau cơ khiến cho việc vận động bị hạn chế.

Người bệnh có những cơn sốt mà không rõ nguyên nhân khiến cho cơ thể mệt mỏi, ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày cũng như công việc.

Các ban đỏ xuất hiện trên mặt, rụng tóc, loét miệng, sưng mắt gây mất thẩm mỹ cho người bệnh.

Có cảm giác đau khi hít thở sâu khiến cho người bệnh cảm thấy vô cùng nặng nề.

Bệnh Lupus ban đỏ khiến cho người bệnh mệt mỏi, sức khỏe giảm sút, tinh thần trí tuệ kém minh mẫn, ảnh hưởng đến công việc và đời sống hằng ngày.

Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lupus bao gồm:

Giới tính: bênh Lupus thường phổ biến ở phụ nữ hơn.

Tuổi tác: Mặc dù lupus ảnh hưởng đến người ở mọi lứa tuổi, nhưng nó thường được chẩn đoán ở độ tuổi từ 15 đến 40.

Chủng tộc: Lupus phổ biến hơn ở người Mỹ gốc Phi, người gốc Tây Ban Nha và người châu Á.

Chẩn đoán bệnh Lupus thường rất khó khăn, bởi vì các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh biểu hiện khác nhau ở mỗi người. Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lupus có thể thay đổi theo thời gian và chồng chéo với những người có nhiều rối loạn khác. Không một thử nghiệm nào có thể chẩn đoán được bệnh Lupus. Cần có sự kết hợp giữa xét nghiệm máu và nước tiểu, các dấu hiệu và triệu chứng cùng các khám nghiệm thể chất để có thể chuẩn đoán được bệnh.

Là một bệnh mãn tính chưa có cách chữa khỏi, việc điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống cũng mang tính hệ thống. Về cơ bản nghĩa là phải phòng chống các đợt bộc phát bệnh và giảm mức độ cũng như thời gian ảnh hưởng của những cơn bệnh đó.

Chi phí để được các chuyên gia và bác sĩ tại Hello Doctor khám và chẩn đoán chỉ từ 200.000 Vnđ. Tuy nhiên, chi phí điều trị bệnh Lupus ban đỏ ở mỗi người là khác nhau vì việc điều trị bệnh phụ thuộc vào thể trạng của mỗi người và điều kiện của bản thân người bệnh.

Các nguyên tắc mà bạn có thể biết:

– Chi phí xét nghiệm đã được niêm yết rất rõ ràng tại Hello Doctor. Các xét nghiệm cần làm bạn có thể xem ở phần chẩn đoán bệnh. Các xét nghiệm có thể nhiều hơn hoặc ít hơn phụ thuộc vào tình trạng bệnh nhân và chỉ định từ bác sĩ điều trị.

– Chi phí khám bệnh được niêm yết tại phòng khám, bệnh nhân hoặc người thân có thể gọi điện, chat trực tuyến để đặt lịch khám hoặc tham khảo thông tin. Khi bệnh nhân tới khám bệnh, trừ phi bác sĩ chỉ định, bệnh nhân sẽ không tốn thêm bất kỳ chi phí nào.

– Chi phí thuốc được sử dụng để điều trị bệnh Lupus ban đỏ không quá đắt và được niêm yết giá cụ thể theo chỉ định của bác sĩ. Không có toa thuốc cụ thể cho mọi bệnh nhân. Để an toàn, KHÔNG tự ý dùng thuốc, hãy gặp bác sĩ để được khám, chỉ định thuốc an toàn.

Tìm hiểu về bệnh lupus rất quan trọng vì bạn có thể hiểu biết nó tác động đến cuộc sống như thế nào và cách tốt nhất để bạn có thể đối phó với nó. Ngoài ra, giúp gia đình và bạn bè của bạn biết hạn chế và nhu cầu của bạn khi các triệu chứng tái phát. Cần phát triển một hệ thống giúp đỡ giữa gia đình, bạn bè và các chuyên gia.

Bệnh Lupus ban đỏ nên được điều trị sớm để tránh những hậu quả nguy hiểm, vì vậy khi thấy bản thân có các dấu hiệu của bệnh, bạn nên đi khám để đươc chuẩn đoán và điều trị sớm nhất. Bạn có thể liên hệ với các bác sĩ của Hello Doctor chúng tôi để nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ qua số điện thoại 1900 1246.

Chữa Bệnh Lupus Ban Đỏ Hệ Thống

Bệnh không rõ nguyên nhân trong đó các mô và tế bào trải qua tổn thương trung gian bởi các phức hợp miễn dịch và tự kháng thể gắn ở mô. Di truyền, môi trường, và các yếu tố nội tiết có vai trò quan trọng trong bệnh sinh. Tăng hoạt động tế bào T và B, sản xuất các tự kháng thể đặc hiệu với yếu tố quyết định kháng nguyên nhân, và các bất thường chức năng tế bào T xảy ra.

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Các đặc điểm thường gặp gồm:

* Thể chất-mệt mỏi, sốt, khó ở, sụt cân * Da-nổi ban (đặc biệt ban hình cánh bướm ở má), mẫn cảm với ánh nắng, viêm mạch, rụng tóc, loét miệng * Viêm khớp-viêm, cân đối, không bào mòn * Huyết học-thiếu máu (có thể tan máu), giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, bệnh hạch bạnh huyết, lách to, huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch * Tim phổi-viêm màng phổi, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, viêm màng trong tim. Bệnh nhân cũng tăng nguy cơ nhồi máu có tim do xơ vữa động mạch được gia tốc. * Viêm thận-phân loại chủ yếu theo mô học (Bảng 319-2, trang 2727, HPIM-18) * Tiêu hóa-viêm phúc mạc, viêm mạch * Thần kinh-hội chứng não hữu cơ, co giật, rối loạn tâm thần, viêm não

Bệnh lupus do thuốc

Hình ảnh lâm sàng và miễn dịch tương tự như lupus ban đỏ hệ thống tự phát có thể gây ra do thuốc; đặc biệt: Procainamid, Hydralazin, Isoniazid, Chlorpromazin, Methyldopa, Minocyclin, các thuốc kháng TNF. Biểu hiện chủ yếu ở thể tạng, khớp, và màng tim-màng phổi; bệnh của thận và hệ thần kinh trung ương là hiếm gặp. Tất cả bệnh nhân có kháng thể kháng nhân (ANA); kháng thể kháng histon có thể có, nhưng kháng thể kháng dsDNA và giảm bổ thể máu là không thường gặp. Hầu hết bệnh nhân được cải thiện sau khi ngừng thuốc.

Bệnh sử và thăm khám

Sự hiện diện của kháng thể kháng nhân là một đặc điểm cốt yếu, nhưng nếu chỉ (+) thì không đặc hiệu cho lupus ban đỏ hệ thống. Xét nghiệm đánh giá nên gồm: công thức máu, tốc độ máu lắng, kháng thể kháng nhân và các dưới nhóm (kháng thể kháng dsDNA, ssDNA, Sm, Ro, La, histon), nồng độ bổ thể (C3, C4, CH50), các globulin miễn dịch huyết thanh, kháng thể giang mai, PT, PTT, kháng thể kháng cardiolipin, chất chống đông lupus, phân tích nước tiểu.

Chụp x-quang thích hợp

Điện tâm đồ

Xem xét làm sinh thiết thận nếu có bằng chứng của viêm cầu thận

Khi từ 4 tiêu chuẩn trở lên (Bảng 319-3, trang 2728, HPIM-18).

ĐIỀU TRỊ Bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Lựa chọn điều trị dựa vào kiểu và mức độ nặng của biểu hiện bệnh. Mục tiêu nhằm kiểm soát các biểu hiện cấp tính, nặng của bệnh và xây dựng các chiến lược bảo tồn mà ở đó các triệu chứng bị ngăn chặn ở mức có thể chấp nhận được. Lựa chọn điều trị phụ thuộc vào (1) hoặc bệnh đe dọa tính mạng hoặc có khả năng gây tổn thương cơ quan; (2) hoặc các biểu hiện bệnh có thể phục hồi; và (3) cách tiếp cận tốt nhất để ngăn ngừa biến chứng của bệnh và điều trị (Ảnh 319-2, trang 2729, và Bảng 319-5, trang 2732, HPIM-18).

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN CHO BỆNH KHÔNG ĐE DỌA TÍNH MẠNG

NSAIDs (Ibuprofen 400-800 mg x 3-4 lần/ngày). Phải xem xét biến chứng thận, tiêu hóa và tim mạch.

Thuốc chống sốt rét (Hydroxychloroquin 400 mg/ngày)-có thể cải thiện các biểu hiện về thể chất, da, khớp. Đánh giá về mắt trước và trong khi dùng thuốc để loại trừ độc tính ở mắt.

Belimumab (10 mg/kg đường tĩnh mạch vào các tuần 0, 2, 4 sau đó dùng hàng tháng). Thuốc ức chế kích thích đặc hiệu tế bào lympho B không nên dùng ở lupus ban đỏ hệ thống nặng như viêm thận hoặc bệnh của hệ thần kinh trung ương và hạn chế với bệnh hoạt động nhẹ đến vừa.

ĐIỀU TRỊ LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG ĐE DỌA TÍNH MẠNG

Glucocorticoid toàn thân.

Các thuốc gây độc tế bào/ức chế miễn dịch-cùng với Glucocorticoid để điều trị lupus ban đỏ hệ thống nặng.

1. Cyclophosphamid-liều 500-750 mg/m2 tĩnh mạch × 6 tháng sau đó bảo tồn với Mycophenolat mofetil hoặc Azathioprin. Các nghiên cứu của châu Au cho thấy Cyclophosphamid 500 mg x 6 liều mỗi 2 tuần có thể có hiệu quả, nhưng vẫn chưa rõ liệu những dữ liệu này có áp dụng cho Hoa Kỳ hay không.

2. Mycophenolat mofetil-2-3 g/ngày; có hiệu quả trong hạn chế viêm thận. Một tỉ lệ cao hơn bệnh nhân da đen đáp ứng với Myco-phenolate mofetil khi so sánh với Cyclophosphamid.

3. Azathioprin-có thể có hiệu quả nhưng đáp ứng chậm

Phác Đồ Điều Trị Lupus Ban Đỏ Hệ Thống

Bệnh lý Lupus ban đỏ hệ thống là một trong một số bệnh lý ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của cơ thể người bệnh, vì vậy bệnh Lupus ban đỏ hệ thống cần được điều trị sớm và chính xác.

có giải thích về Lupus ban đỏ hệ thống như sau: Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý của mô liên kết có tổn thương nhiều cơ quan do hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn, đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều tự kháng thể khác. Một vài cơ quan thường bị tổn thương bao gồm khớp, da, thận, tế bào máu, tim, phổi, thần kinh…

Phác đồ điều trị Lupus ban đỏ hệ thống

Phác đồ điều trị Lupus ban đỏ hệ thống tại website chỉ mang tính tham khảo!

– Điều trị bao gồm: giai đoạn tấn công, củng cố và duy trì

– Cân nhắc cẩn thận giữa tác dụng mong muốn và tác dụng phụ của mỗi loại thuốc.

Điều trị cụ thể – Thuốc kháng viêm không steroid: trong một số trường hợp Lupus kèm viêm đau khớp, sốt và viêm nhẹ một số màng tự nhiên nhưng không kèm tổn thương một số cơ quan lớn. Nên tránh dung ở một số bệnh nhân viêm thận đang hoạt động.

– hydroxychloroquine 200mg/ngày đáp ứng tốt với một số trường hợp có ban, nhạy cảm với ánh sáng, đau hoặc viêm khớp, biến chứng ở mắt rất hiếm (theo dõi: khám mắt 1 lần/năm).

– Liệu pháp glucocorticoid: sử dụng đường toàn thân

Chỉ định: Lupus ban đỏ có đe dọa tính mạng như có tổn thương thần kinh, giảm tiểu cầu, thiếu máu huyết tán hoặc lupus ban đỏ không đáp ứng với một số biện pháp điều trị bảo tồn

+ 1-2mg/kg đường uống. Khi bệnh kiểm soát tốt, giảm liều prednisolone 10% mỗi 7-10 ngày. + Sử dụng methylprednisolone đường tĩnh mạch 500mg mỗi 12 giờ trong 3-5 ngày được sử dụng trong một số trường hợp tổn thương thận tiến triển nhanh, tổn thương thần kinh nặng và giảm tiểu cầu nặng. Sau đó chuyển sang sử dụng corticoid bằng đường uống và giảm liều tương tự như trên.

– Liệu pháp sử dụng một số thuốc ức chế miễn dịch khác:

Chỉ định: Lupus ban đỏ thể nặng có khả năng đe dọa tính mạng như viêm cầu thận cấp nặng, có tổn thương thần kinh, giảm tiểu cầu và thiếu máu huyết tán hoặc lupus không đáp ứng với corticoid hoặc xuất hiện tác dụng phụ nặng của corticoid.

Liều sử dụng: có nhiều loại thuốc có thể sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với nhau, hoặc với corticoid.

+ cyclophosphamide: 0,5- 1g/m2 da, đường tĩnh mạch 3-4 tuần/ lần trong 6-7 tháng hoặc 1,0-5,0 mg/kg/ngày đường uống. Cần phối hợp với mesna (mercapto- ethanesulphonic acid) để dự phòng biến chứng tại bàng quang. + dapsone 100mg/ngày (ít sử dụng). +azathioprine (2-2,5mg/kg/ngày), mycophenolate mofetil (500-1500mg), đây là nhóm thuốc hiện đang được ưa chuộng vì ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, thích hợp với một số phụ nữ còn độ tuổi sinh đẻ, tuy nhiên giá thành tương đối cao. + methotrexate 7,5-20 mg/tuần. + Một số thuốc khác: leflunomide, liệu pháp hormone, thalidomide, truyền tĩnh mạch immunoglobulin liều cao… + Chế phẩm sinh học: rituximab (mab Thera) là thuốc ức chế tế bào B với liều mỗi năm một lần gồm 2 đợt mỗi đợt truyền 2 lần cách nhau 2 tuần với liều 500-1000mg/lần. Cần sàng lọc lao, viêm gan và một số bệnh nhiễm khuẩn nặng trước khi điều trị sinh học cho bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống.

Điều trị không sử dụng thuốc Chủ yếu là đối với thể nhẹ, bao gồm: nghỉ ngơi, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng, dự phòng nhiễm khuẩn, giáo dục bệnh nhân hiểu rõ về bệnh. Một số trường hợp tổn thương suy thận nặng có thể phải lọc máu hoặc ghép thận.

Nguồn tài liệu y khoa tham khảo và tổng hợp:

“Chẩn đoán và điều trị những bệnh cơ xương khớp”, Nhà xuất bản y học

Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai

Được các chuyên gia y tế tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur tổng hợp và chia sẻ kiến thức Y lâm sàng

Lupus Ban Đỏ Hệ Thống Là Bệnh Gì?

Tác giả: Giang Lê, Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh.

Lupus ban đỏ hệ thống hay lupus ban đỏ là bệnh tự miễn, làm viêm mô liên kết và có thể tổn hại đến các cơ quan khác trong cơ thể. Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch tự sản xuất kháng thể tự tấn công vào các cơ quan trong cơ thể. Bệnh ảnh hưởng đến khớp, da, phổi, tim, mạch máu, thận, hệ thần kinh và tế bào máu. Lupus ban đỏ còn gây ra hiện tượng Raynaud (tình trạng mạch máu bị co thắt lại khiến ngón tay, ngón chân, tai và mũi bị đau và tím tái).

Bệnh thường có hai giai đoạn bệnh nặng và nhẹ xen kẽ nhau. Đa số các trường hợp nhiễm bệnh không có ảnh hưởng gì đến cuộc sống.

Những ai thường mắc phải bệnh lupus ban đỏ?

Cứ 2000 người thì có 1 người bị lupus ban đỏ. Trong đó số bệnh nhân nữ bị nhiều gấp 5 lần so với số bệnh nhân nam, đặc biệt với phụ nữ đang mang thai hoặc trong thời kỳ kinh nguyệt, các triệu chứng sẽ nặng thêm. Bệnh nhân lupus ban đỏ phần lớn là từ 15 đến 40 tuổi. Người Mỹ gốc Phi và người Châu Á và người có tổ tiên gốc Tây Ban Nha mắc bệnh nhiều hơn người da trắng.

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lupus ban đỏ là gì?

Dấu hiệu của lupus ban đỏ xuất hiện phụ thuộc vào cơ quan mắc bệnh. Những triệu chứng ban đầu bao gồm:

Mệt mỏi;

Đau khớp và sưng hay xơ cứng khớp, thường ở tay, thắt lưng và đầu gối;

Bị phát ban ở phần cơ thể tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, thường là ở mặt (gò má và mũi);

Hiện tượng Raynaud làm cho đầu ngón tay, ngón chân tím tái và đau đớn khi tiếp xúc với lạnh;

Viêm màng phổi, gây ra cơn đau khi thở cùng thở gấp;

Thận bị ảnh hưởng có thể dẫn đên cao huyết áp và suy thận.

Lupus ban đỏ ảnh hưởng đến trí nhớ và tâm trạng và gây ra stress hay lẫn lộn.

Nguyên nhân gây ra bệnh lupus ban đỏ là gì?

Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được rõ, nhưng yếu tố môi trường và di truyền có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Người tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc sống trong môi trường bị phơi nhiễm virus, hoặc thường gặp stress có nguy cơ mắc bệnh. Hormone và giới tính cũng là một phần nguyên nhân. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hormone estrogen có vai trò trong việc hình thành bệnh.

Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc bệnh lupus ban đỏ?

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc lupus ban đỏ bao gồm:

Giới tính: lupus phổ biến hơn ở phụ nữ, đặc biệt là khi mang thai và có kinh nguyệt;

Thường xuyên tắm nắng hoặc tiếp xúc trực tiếp với nắng;

Bị nhiễm trùng;

Dùng thuốc đặc trị, đặc biệt là thuốc chống động kinh, hạ huyết áp và kháng sinh;

Tuổi tác: mặc dù lupus ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi, nhưng thường được chẩn đoán trong độ tuổi từ 15 và 40.

Điều trị bệnh lupus ban đỏ

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những phương pháp nào dùng để điều trị bệnh lupus ban đỏ?

Cách điều trị Lupus ban đỏ hệ thống phụ thuộc vào triệu chứng và vị trí bị phát ban. Bác sĩ có thể chỉ định cho bạn thuốc kháng viêm không chứa steroid.

Ngoài ra, thuốc ức chế miễn dịch như prednisone cũng có hiệu quả khá tốt đối với lupus ban đỏ.

Nếu bệnh vẫn không tiến triển, bác sĩ sẽ dùng thuốc đặc trị như hydroxychloroquine trị sốt rét và viêm khớp, methotrexate trị thấp khớp, azathioprine và cyclophosphamide ức chế miễn dịch.

Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán bệnh lupus ban đỏ?

Bác sĩ chẩn đoán lupus đỏ từ bệnh sử, khám lâm sàng và làm xét nghiệm máu.

Các xét nghiệm máu bao gồm đo tốc độ lắng hồng cầu (ESR), xét nghiệm công thức máu (CBC), kháng thể kháng nhân (ANA) và xét nghiệm nước tiểu. Đo tốc độ lắng hồng cầu để kiểm tra mức độ viêm. Xét nghiệm công thức máu để xác định số tế bào hồng cầu và tiểu cầu.

Bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm anti-dsDNA chuyên dùng để chẩn đoán Lupus ban đỏ hệ thống.

Người mắc bệnh lupus ban đỏ sống được bao lâu?

Khi mắc bệnh, chúng ta thường lo lắng, không biết mình mắc bệnh có nặng không. Tương tự vậy, người mắc bệnh lupus thường có hai vấn đề họ luôn quan tâm: bệnh lupus ban đỏ có chữa được không? và người mắc bệnh lupus ban đỏ sống được bao lâu?.

Trên thực tế, vẫn chưa có một phương pháp nào giúp điều trị hoàn toàn bệnh lupus ban đỏ. Việc điều trị chỉ giúp giảm nhẹ các triệu chứng, từ đó bạn có thể sống thêm ít nhất 10 năm, thậm chí cũng có người sống lâu bằng người khỏe mạnh. Điều quan trọng là bạn cần phải tuân theo mọi hướng dẫn của bác sĩ để cải thiện bệnh tốt hơn.

Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của bệnh lupus ban đỏ?

Không hút thuốc. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và có thể làm trầm trọng thêm các tác động của lupus về tim và mạch máu của bạn;

Có chế độ ăn uống lành mạnh, bổ sung vitamin D và omega-3. Đôi khi bạn cần kiêng cữ trong chế độ ăn uống, đặc biệt là nếu huyết áp cao, suy thận hoặc gặp các vấn đề tiêu hóa;

Tập thể dục đều đặn để cơ thể tăng sức dẻo dai và đề kháng tốt hơn;

Tránh tiếp xúc ánh nắng trực tiếp. Bạn có thể dùng kem chống nắng có SPF 50 hoặc cao hơn nếu bắt buộc phải đi ra ngoài;

Nghỉ ngơi vừa đủ. Nếu bị lupus ban đỏ hệ thống, bạn sẽ thấy mệt ngay cả khi cơ thể không cần nghỉ ngơi, do đó, bạn chỉ nên nghỉ vừa đủ và cố gắng vận động nhẹ nhàng thay vì nằm;

Dùng thuốc theo chỉ dẫn. Gọi bác sĩ nếu gặp tác dụng phụ của thuốc.

Người mắc lupus ban đỏ nên ăn gì?

Chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện bệnh. Một số loại thực phẩm mà người bệnh lupus ban đỏ nên bồ sung hàng ngày như:

Rau xanh và trái cây

Thực phẩm giàu canxi và vitamin D như phô mai, sữa, sữa chua,… giúp ngăn ngừa loãng xương

Ngũ cốc nguyên hạt và lúa mì

Thực phẩm giàu protein và ít chất béo

Nước: bạn nên uống đủ 1,5-2l nước mỗi ngày

Bên cạnh đó, người bệnh cũng không nên ăn một số loại thực phẩm như:

Thực phẩm nhiều chất béo

Đồ uống có caffeine

Thực phẩm nhiều muối

Rượu

Lupus ban đỏ thường gặp ở nữ giới. Đây là một bệnh tự miễn và biểu hiện bệnh rất đa dạng, do đó đôi khi chẩn đoán bệnh rất khó khăn. Điều trị bệnh chủ yếu là sử dụng nhóm thuốc ức chế miễn dịch. Khi bệnh bùng phát, bác sĩ sẽ sử dụng thuốc theo phác đồ tấn công trong 6-8 tuần cho đến khi lui bệnh và chuyển sang phác đồ điều trị duy trì. Các thuốc ức chế miễn dịch có nhiều tác dụng phụ, do đó bạn nên sử dụng theo hướng dẫn của bác sĩ và tái khám thường xuyên ngay cả khi lui bệnh.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Cập nhật thông tin chi tiết về Lupus Ban Đỏ Hệ Thống (Sle) trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!