Xu Hướng 2/2023 # Bệnh Quai Bị: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Quai Bị # Top 5 View | Zqnx.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bệnh Quai Bị: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Quai Bị # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Bệnh Quai Bị: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Quai Bị được cập nhật mới nhất trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Quai bị là gì?

Bệnh quai bị là một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính có tên dân gian là má chàm bàm do virus Paramyxo gây ra. Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất là trẻ em từ 2 đến 14 tuổi với các biểu hiện chính như sưng đau tuyến mang tai. Bệnh quai bị có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng do làm ảnh hưởng đến tinh hoàn, buồng trứng, vú, não, màng não và tuyến tụy.

2. Nguyên nhân gây bệnh quai bị

Tác nhân gây bệnh:

Do virus quai bị thuộc họ Paramyxovirus gây ra. Tốc độ lây truyền của virus trong cộng động rất nhanh, có khả năng trở thành dịch ở trẻ em.

Đường lây truyền:

Chủ yếu truyền nhiễm qua con đường hô hấp, người bệnh truyền sang người lành chưa có kháng thể chống lại virus quai bị.

Khi người bệnh hắc hơi, ho hoặc nói virus sẽ theo các giọt nước bọt, dịch tiết mũi họng ra ngoài không khí hoặc bám vào vật dụng cá nhân như khăn, chén, đũa, ly uống nước, đồ chơi của trẻ em,… Virus xâm nhập vào người lành do hít phải hoặc sử dụng các đồ dùng đã nhiễm virus.

Thời kỳ lây truyền:

Thời gian ủ bệnh khoảng 16 đến 18 ngày tùy vào nguồn lây nhiễm.

Người mắc bệnh có thể lây truyền cho người lành trước khi sưng mang tai khoảng 1 tuần và kéo dài thêm 2 tuần sau đó.

Thời kỳ lây truyền mạnh nhất khoảng tầm 2 ngày trước khi người bệnh bị viêm tuyến mang tai.

Nguy cơ mắc bệnh quai bị:

– Tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.– Khu vực sinh sống tập thể như trường học, nhà trẻ, khu vui chơi giải trí,…– Độ tuổi bị quai bị thường là trẻ em dưới 15 tuổi chưa được tiêm phòng vắc-xin.– Người có hệ miễn dịch suy yếu.– Sử dụng chung các đồ dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

3. Triệu chứng của bệnh quai bị

Những dấu hiệu, triệu chứng để nhận biết bệnh quai bị phổ biến nhất là sốt, mệt mỏi, sưng và đau tuyến mang tai. Người bệnh có thể trải qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn ủ bệnh: thường 2-3 tuần lễ và không có biểu hiện cụ thể.

Giai đoạn khởi phát:

Ban đầu sốt, có thể sốt cao đột ngột.Cơ thể mệt mỏi, đau đầu, suy nhược, đau nhức cơ.Chán ăn, mất ngủ.Đau họng và đau góc hàm.Sưng bên má gây đau khi nhai, nuốt, nói chuyện.

Giai đoạn toàn phát:

Tuyến nước bọt sưng to và đau một bên rồi lan bên còn lại. Hai bên sưng không đối xứng, không hóa mủ.

Quan sát vùng da bị sưng thấy căng, bóng, không bị đỏ, chạm vào thấy nóng và bệnh nhân đau mạnh.

Ở một số người có thể sưng rất to làm biếng dạng khuôn mặt.

Triệu chứng kéo dài trong 3 ngày sau đó giảm dần trong 1 tuần.

Giai đoạn lành bệnh:

Sau khi gây sưng và đau ở tuyến mang tai người bệnh chuyển sang giai đoạn lành bệnh khoảng 1 tuần: giảm sưng, giảm đau, dễ nuốt và hết từ từ.

Biến chứng nguy hiểm của quai bị:

Một trong những biến chứng đáng lo ngại của bệnh quai bị là có thể làm ảnh hưởng đến các cơ quan khác đặc biệt là cơ quan sinh sản.

Ở nam giới: viêm tinh hoàn (10 – 30%), nếu không được chữa trị kịp thời có thể gây teo tinh hoàn và sẽ gây vô sinh nếu tinh hoàn bị teo cả hai bên. Nếu có thấy tinh hoàn sưng to, căng bóng, đỏ, đau cần phải theo dõi điều trị ngay.

Ở nữ giới: viêm buồng trứng (7%), gây sảy thai và sinh con bị dị dạng.

Các cơ quan khác: viêm não, màng não, viêm tụy, viêm cơ tim, viêm thần kinh thính giác, viêm tuyến giáp.

Các kỹ thuật chẩn đoán bệnh quai bị:

– Thăm khám và hỏi lịch sử bị bệnh quai bị.– Sử dụng các phương pháp xét nghiệp như: Vật liệu di truyền của virus (RT-PCR), xét nghiệm kháng thể IgM và IgG, nuôi cấy virus.

4. Điều trị bệnh quai bị

Hiện nay bệnh quai bị chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị các triệu chứng và phòng ngừa biếng chứng.

Bệnh nhân sẽ tự khỏi bệnh từ 7 – 10 ngày, các bác sĩ sẽ dựa vào từng giai đoạn, triệu chứng để kê thuốc thích hợp.

Các nguyên tắc điều trị:

Vệ sinh vùng miệng sạch sẽ bằng kem đánh răng và các dung dịch sát khuẩn để phòng ngừa nhiễm khuẩn.Sử dụng thuốc hạ sốt và giảm đau.Uống nhiều nước, bù điện giải nếu sốt cao, mất nước.Bệnh nhân nghỉ ngơi tại chỗ, hạn chế tiếp xúc với người khác và nên đeo khẩu trang tránh lây truyền cho cộng đồng.Theo dõi và điều trị chống viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm não, viêm thính giác, viêm tụy.

5. Phòng ngừa bệnh quai bị

Một số biện pháp giúp phòng ngừa tốt bệnh quai bị:

– Đối với trẻ em cần tiêm vắc-xin theo lịch tiêm chủng quốc gia.– Cung cấp kiến thức cho người dân bằng các tuyên truyền, giáo dục đến các bậc phụ huynh có con nhỏ, cán bộ nhà trường,…– Không tiếp xúc trực tiếp hoặc dùng chung đồ với người đang mắc bệnh.– Giữ vệ sinh cá nhân và môi trường sống sạch sẽ.– Tập luyện thể thao và có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi khoa học.– Các ly người bệnh quai bị cho tới khi hết hẳn nhất là ở trường học, nhà trẻ,…

Bệnh Quai Bị: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Tổng quan bệnh Bệnh quai bị

Bệnh quai bị là bệnh gì? Quai bị là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus với biểu hiện đặc trưng là sưng đau tuyến nước bọt. Ngoài ra, bệnh còn có thể gây viêm tuyến sinh dục, viêm màng não, viêm tụy và một số biến chứng khác nếu không điều trị kịp thời. Trẻ em là đối tượng thường xuyên nhiễm quai bị trừ độ tuổi nhũ nhi (ít hơn 1 tuổi) thì hiếm khi bị, nguyên nhân có thể do vẫn còn kháng thể tốt từ mẹ.

Nguyên nhân bệnh Bệnh quai bị

Bệnh quai bị gây ra do virus quai bị thuộc nhóm Paramyxovirus. Người bệnh thường có khả năng lây nhiễm cao nhất từ hai ngày trước khi các triệu chứng xuất hiện hoặc sáu ngày sau khi các triệu chứng kết thúc.

Triệu chứng bệnh Bệnh quai bị

Phần lớn bệnh quai bị thường khởi phát với triệu chứng sớm là sốt (trên 39°C) sau đó triệu chứng bệnh quai bị sẽ đặc trưng bởi viêm tuyến nước bọt mang tai với các biểu hiện sau:

Trẻ có cảm giác đau ở ngoài ống tai ngoài, lan dần ra xung quanh.

Sau 1-2 ngày, tuyến mang tai sẽ dần sưng to, lan ra vùng trước tai rồi lan xuống dưới hàm (thấy mất rãnh dưới hàm), da vùng sưng không nóng đỏ. Triệu chứng sưng thường ở cả 2 bên tuyến mang tai.

Trong thời điểm này, trẻ sẽ cảm thấy đau khi nuốt, nói, nhai hoặc uống nước có tính axit.

Triệu chứng toàn thân kèm theo có thể là: sốt, mệt mỏi, nhức đầu, đau nhức xương khớp, ăn ngủ kém.

Sau 1 tuần, tuyến mang tai giảm đau và nhỏ dần, hết sốt và triệu chứng toàn thân cũng thuyên giảm.

Bệnh quai bị còn có thể gây ra một số biến chứng ở các cơ quan khác như:

Viêm tinh hoàn: Ban đầu, bệnh nhân đau ở tinh hoàn sau đó tinh hoàn sưng to gấp 3-4 lần bình thường, đau nhức, da bìu đỏ, đôi khi sưng to cả mào tinh. Thường biểu hiện sưng chỉ ở một bên tinh hoàn nhưng cũng có thể sưng cả hai bên. Triệu chứng sưng tinh hoàn kéo dài lâu hơn cả bệnh với khoảng 2 tuần mới hết sưng và 2 tháng mới đánh giá được lại teo tinh hoàn.

Viêm màng não: xuất hiện sốt cao, đau nhức đầu, nôn, rối loạn ý thức, co giật, cứng cổ.

Viêm tụy cấp: biến chứng gặp ở người lớn nhiều hơn và thường là thể ẩn. Một số triệu chứng có thể gặp là bệnh nhân sốt, đau thượng vị kèm nôn, đầy bụng hoặc ỉa lỏng, chán ăn…

Đường lây truyền bệnh Bệnh quai bị

Bệnh quai bị lây truyền qua đường nào?

Đường hô hấp là chủ yếu do các bụi nước trong hơi thở người bệnh truyền sang người lành thông qua động tác ho, hắt hơi, khạc nhổ, giao tiếp. Sau đó, người lành hít phải sẽ tồn tại virus bám vào niêm mạc mũi miệng, kết mạc và xâm nhập vào nội tạng qua đường máu.

Đối tượng nguy cơ bệnh Bệnh quai bị

Đối tượng hay mắc quai bị nhất là trẻ em từ 3 tuổi trở lên, chính là độ tuổi trẻ bắt đầu đi học mẫu giáo và tăng nguy cơ mắc phải từ cộng đồng.

Trong đó, hay gặp nhất là độ tuổi từ 5-9 tuổi và thanh niên.

Bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ.

Người có hệ thống miễn dịch yếu.

Phòng ngừa bệnh Bệnh quai bị

Một số biện pháp để chủ động phòng ngừa bệnh quai bị được khuyến cáo gồm:

Rửa tay thường xuyên với xà phòng, đảm bảo vệ sinh nhà ở, lớp học, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, đặc biệt là đường hô hấp, thường xuyên đeo khẩu trang để tránh viêm nhiễm gây nên bệnh quai bị.

Tiêm vaccine phòng bệnh quai bị, đây là yếu tố rất quan trọng cho những trẻ dậy thì, thiếu niên và người trưởng thành chưa có miễn dịch.

Người bệnh cần cách ly trong khoảng 10 ngày để tránh lây lan cho người khác.

Người nghi ngờ bị bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và xử trí kịp thời, đặc biệt với các trường hợp khó nuốt, khó thở, viêm tinh hoàn.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Bệnh quai bị

Chẩn đoán bệnh quai bị dựa vào triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán xác định:

Về lâm sàng: Triệu chứng đặc trưng là bệnh nhân có sốt, mệt mỏi, đặc biệt là sưng đau một hoặc nhiều tuyến nước bọt mang tai, có thể kèm viêm tinh hoàn, viêm màng não hoặc viêm tụy.

Về xét nghiệm: Nhìn chung triệu chứng lâm sàng của bệnh quai bị khá điển hình nên xét nghiệm chỉ được sử dụng khi cần thiết như: Miễn dịch gắn men (ELISA) để phát hiện kháng thể quai bị trong máu hoặc miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA) phát hiện kháng nguyên, kháng thể đặc hiệu.

Các biện pháp điều trị bệnh Bệnh quai bị

Hiện nay, bệnh quai bị không có thuốc điều trị đặc hiệu nên nguyên tắc điều trị bệnh hiện nay chủ yếu là điều trị triệu chứng và biến chứng:

Hạn chế vận động tối đa, an thần và chăm sóc tốt bệnh nhân nhất là trong giai đoạn toàn phát.

Điều trị chống viêm tinh hoàn, buồng trứng, viêm tụy, viêm màng não.

Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm vi khuẩn theo đúng chỉ định.

Với các thể nặng có thể dùng globulin miễn dịch kết hợp.

Nguyên Nhân Bệnh Quai Bị Và Cách Chữa Trị Hiệu Quả

Bệnh quai bị lây qua đường nước bọt, ăn uống, có thể gây vô sinh. Hiện nay chỉ có thể phòng bệnh quai bị bằng tiêm vắc xin.

Theo Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, mùa đông xuân là mùa bệnh quai bị xuất hiện nhiều nhất. Quai bị do virus paramyxovirus gây nên. Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến mang tai dịch tễ hay viêm tuyến mang tai do virus quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên do virus quai bị gây nên.

Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hóa mủ. Là một bệnh truyền nhiễm, thường xảy ra vào mùa đông – xuân. Lây trực tiếp khi gần bệnh nhân nói, ho hoặc hắt hơi.

Bệnh có trên toàn thế giới và chỉ xuất hiện ở người. Bệnh thường hay gặp ở trẻ nhỏ và lứa tuổi vị thành niên, người lớn cũng có thể mắc nhưng tỷ lệ là thấp hơn. Bệnh do virus lây truyền qua đường hô hấp và đường ăn uống, qua những giọt nước bọt khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi.

Vấn đề lây qua đường phân và nước tiểu hiện vẫn chưa được xác nhận dù virus quai bị có khả năng tồn tại trong nước tiểu khoảng 2-3 tuần. Khi bị nhiễm bệnh, virus nhân lên trong khoang tỵ hầu và hạch bạch huyết. Virus tăng cao trong huyết thanh khoảng 12-15 ngày sau nhiễm và lan ra các cơ quan khác. Thời gian lây là từ 6 ngày trước cơn toàn phát sưng tuyến mang tai cho đến 2 tuần sau khi có triệu chứng bệnh lý.

Bệnh có đặc điểm dịch tễ rõ ràng, thường phát vào mùa xuân, nhất là trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5, trong các môi trường tập thể như trường học, nhà trẻ. Tuổi nào cũng có thể bị bệnh quai bị, khả năng mắc bệnh ở nam cao hơn nữ.

Tuy nhiên ít gặp quai bị ở trẻ dưới 2 tuổi mặc dù trẻ chỉ được bảo vệ trong 6 tháng đầu nếu mẹ đã từng mắc bệnh quai bị. Sau 2 tuổi, tần suất bệnh tăng dần, đạt đỉnh cao ở lứa tuổi 10-19. Sau khi tiếp xúc với virus quai bị khoảng 14-24 ngày, người bệnh có cảm giác khó chịu, ăn kém, sốt, đôi khi rét, đau họng và đau góc hàm. Tuyến mang tai sưng to dần trong khoảng 3 ngày rồi giảm sưng dần trong khoảng 1 tuần.

Tuyến mang tai có thể sưng 1 bên hay 2 bên. Nếu sưng cả 2 bên thì 2 tuyến có thể không sưng cùng lúc, tuyến 2 bắt đầu sưng khi tuyến 1 đã giảm sưng. Vùng sưng thường lan đến má, dưới hàm, đẩy tai lên trên và ra ngoài; có khi lan đến ngực gây phù trước xương ức.

Bệnh nhân có cảm giác đau ở vùng tuyến bị sưng nhưng da trên vùng sưng không nóng và không sung huyết, ngược với những trường hợp viêm tuyến mang tai do vi khuẩn. Lỗ ống Stenon ở niêm mạc má 2 bên sưng đỏ, có khi có giả mạc. Bệnh nhân có cảm giác khó nói, khó nuốt, đôi khi phù thanh môn gây khó thở phải mở khí quản. Thời gian biểu hiện bệnh lý khoảng 10 ngày.

Tuy nhiên có khoảng 25% người bị nhiễm virus quai bị mà không có dấu hiệu bệnh lý rõ rệt, đây là những đối tượng có khả năng truyền bệnh mà người xung quanh không nhận biết. Bệnh quai bị gây miễn dịch bền vững khi đã mắc bệnh dù sưng 1 hay 2 bên tuyến mang tai nên ít khi bị quai bị lần 2.

Cho đến nay biến chứng của quai bị khiến nhiều người lo sợ đó là khả năng gây vô sinh. Đối với biến chứng viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn: Biến chứng này có tỷ lệ 20-35% ở người sau tuổi dậy thì mắc bệnh quai bị, thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai khoảng 7-10 ngày nhưng cũng có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời.

Tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng phù như một sợi dây thường. Tình trạng viêm và sốt kéo dài 3-7 ngày, sau đó khoảng 50% số trường hợp tinh hoàn teo dần và có thể dẫn đến tình trạng giảm số lượng tinh trùng và vô sinh.

Nhồi máu phổi: Là tình trạng một vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến.

Viêm buồng trứng: Có tỷ lệ 7% ở nữ sau tuổi dậy thì, ít khi dẫn đến vô sinh .

Viêm tụy: Có tỷ lệ 3-7%, là một biểu hiện nặng của quai bị. Bệnh nhân bị đau bụng nhiều, buồn nôn, có khi tụt huyết áp.

Các tổn thương thần kinh: Viêm não có tỷ lệ 0,5%, bệnh nhân có các hiện tượng như: thay đổi tính tình, bứt rứt, khó chịu, nhức đầu, co giật, rối loạn tri giác, rối loạn thị giác, đầu to do não úng thủy. Tổn thương thần kinh sọ não dẫn đến điếc, giảm thị lực, viêm tủy sống cắt ngang, viêm đa rễ thần kinh.

Bệnh quai bị ở phụ nữ có thai: Những phụ nữ bị quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.

Một số biến chứng khác: Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu. Vì viêm tuyến mang tai còn có thể gây ra do các virus khác (Coxackie, Influenza), do vi trùng (Staphylococcus aureus), do tắc ống dẫn tuyến nước bọt vì sỏi và viêm tinh hoàn còn có thể do lao, Leptospirose, lậu nên trong một số trường hợp khó chẩn đoán, bệnh nhân cần thực hiện một số xét nghiệm như: Phân lập virus từ máu dịch họng, dịch tiết từ ống Stenon, nước tiểu hay dịch não tủy. Các phản ứng huyết thanh học: Test ELISA, miễn dịch huỳnh quang, trung hoà bổ thể.

Vaccin phòng bệnh quai bị có tác dụng kích thích cho trẻ em sản sinh kháng thể kháng quai bị kháng thể đạt mức độ cao nhất sau khi tiêm chủng 6 – 7 tuần. Số lần tiêm: Nếu bắt đầu tiêm từ 9 tháng tuổi: tiêm 3 lần, lần 1 lúc 9 tháng tuổi, lần 2 sau lần 1 sáu tháng, lần 3 khi trẻ từ 4-12 tuổi. Nếu bắt đầu tiêm từ 12 tháng tuổi: tiêm 2 lần, lần 1 lúc 12 tháng tuổi lần 2 từ 4-12 tuổi.

Tiêm chủng khẩn cấp được chỉ định cho trẻ từ 12 tháng tuổi, trẻ vị thành niên và người lớn nếu đã có tiếp xúc với bệnh nhân quai bị nhưng chưa có tiền sử mắc quai bị và chưa được tiêm chủng theo lịch phòng bệnh quai bị. Trong trường hợp không có chống chỉ định, vaccin cần được tiêm không muộn hơn 72 giờ kể từ khi có tiếp xúc với bệnh nhân.

Quai bị là một căn bệnh khá phổ biến, bệnh này tuy không thật nguy hiểm đến tính mạng con người nhưng lại gây ra nhiều ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và những biến chứng khó lường khác.

Chính vì vậy việc tìm hiểu nguyên nhân triệu chứng của bệnh quai bị đóng một vai trò vô cùng quan trọng để bệnh nhân nhanh chóng phát hiện ra bệnh nhằm có phương pháp chữa trị thích hợp đồng thời tránh xa những nguyên nhân có thể gây bệnh phổ biến.

Nguyên nhân, triệu chứng bệnh quai bị Nguyên nhân gây bệnh quai bị – Bệnh quai bị xuất hiện trên khắp thế giới, không phân biệt giới tính, tuổi tác, tuy nhiên bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, tuổi vị thành niên, người lớn cũng có thể mắc bệnh nhưng với tỷ lệ thấp hơn tuy nhiên biến chứng ở người lớn lại nguy hiểm hơn. Mỗi người chỉ bị quai bị 1 lần, ít khi bị tái phát lần 2.

– Nguyên nhân gây bệnh quai bị là do virus Paramyxovirus lây truyền qua đường hô hấp và đường ăn uống, qua những giọt nước bọt khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi, do đó bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp, đường phân và nước tiểu vì virus quai bị có thể tồn tại trong nước tiểu, phân từ 2-3 tuần tùy theo môi trường.

– Do cơ thể có sức đề kháng yếu nên dễ bị virus tấn công gây viêm.

– Do cơ thể bệnh nhân bị các rối loạn chuyển hóa như bị suy dinh dưỡng hoặc mắc bệnh đái tháo đường, xơ gan gây viêm tuyến mang tai;

– Do bệnh nhân bị phản ứng với một số loại thuốc: phenylbutazone, thiouracil, các thuốc chứa iốt gây viêm, sưng tuyến mang tai;

Triệu chứng bệnh quai bị Bệnh quai bị thể nhẹ: Sưng đau 1 bên hoặc 2 bên mang tai, vùng má dưới tai đau và sưng dần lên. Rêu lưỡi trắng, không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ, cơ thể mệt mỏi, nếu không có biến chứng và bệnh nhân được chăm sóc tốt, sau 4-5 ngày bệnh sẽ khỏi hẳn;

– Khi mới mắc bệnh, bệnh nhân thấy khó chịu, sợ gió, nhức đầu, đau trước tai. Sau đó một bên tuyến mang tai bắt đầu sưng, rồi 2 – 3 ngày hôm sau lan sang bên kia. Chỗ sưng đau nhưng không tấy đỏ, da bóng lên, ấn không lún, không hoá mủ, họng hơi đỏ;

– Khi mắc bệnh quai bị thể nặng bệnh nhân sẽ bị nóng sốt kéo dài, có khi lên đến 40 độ C, sau đó thuyên giảm dần, phần lớn chỉ sau hơn 1 tuần đến 10 ngày bệnh sẽ tự khỏi hẳn nếu không gặp các biến chứng khác;

– Khi bị bệnh quai bị thể nặng có thể khiến nam giới bị viêm tinh hoàn và nữ giới bị viêm buồng trứng, đây là những biến chứng rất nguy hiểm của căn bệnh này: Thông thường triệu chứng này có thể xuất hiện sau khi bệnh nhân bị bệnh quai bị từ 5-10 ngày, khi ấy bệnh nhân bị sốt cao trở lại, cơ thể mệt mỏi, có khi mê sảng, tinh hoàn sưng to, đỏ tây, đau, trường hợp biến chứng nặng có thể sưng cả 2 bên tinh hoàn và gây vô sinh.

Khi bị viêm tinh hoàn, khoảng 10 ngày sau thì cảm giác đau, sưng tấy không còn nhưng bệnh nhân cần kiểm tra và tái khám cẩn thận vì sau 2 tháng mới biết được tinh hoàn bị teo hay không và có bị vô sinh hay không;

– Một biến chứng khác của bệnh quai bị thể nặng có thể bị viêm màng não, viêm não, viêm tụy tạng, viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, tổn thương thần kinh nhưng nếu được chăm sóc, chữa trị kịp thời sẽ khỏi hẳn và không để lại bất cứ di chứng nào đối với người bệnh;

– Đặc biệt bệnh quai bị ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ còn có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu, rất nguy hiểm.

Là một căn bệnh khá phổ biến với nhiều biến chứng khó lường, chính vì vậy việc tìm hiểu các nguyên nhân, triệu chứng bệnh quai bị sẽ giúpchúngta biết cách tránh xa những nguyên nhân có thể gây bệnh, có biện pháp chủ động phòng ngừa và nhanh chóng nhận diện ra bệnh để có biện pháp chữa trị bệnh quai bị, ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm khác.

(Blogsudo Tổng Hợp)

Từ khóa tìm kiếm: quai bi,

Bệnh Quai Bị Và Top 6 Cách Điều Trị Quai Bị Ở Trẻ Em

Bệnh quai bị ở trẻ em là gì?

Bệnh quai bị là một bệnh do virus trong tuyến nước bọt gây ra làm cho trẻ bị sưng và đau ở tuyến nước bọt, hoặc tuyến mang tai. Bệnh quai bị rất dễ lây khi tiếp xúc thông thường trong môi trường có virus gây bệnh, dễ lây nhiễm vào nhiều bộ phận trong cơ thể trẻ, chủ yếu là ở tuyến nước bọt gần mang tai. Tuyến này nằm ở 2 bên phía trước của tai, bên dưới gò má. Trẻ mắc quai bị sẽ sưng và đau ở khu vực tuyến nước bọt.

Hiện nay, trên thế giới chưa có cách nào điều trị bệnh quai bị, mà chỉ có cách phòng tránh, tăng sức đề kháng để trẻ không bị quai bị. Bệnh này sẽ tự khỏi trong khoảng từ 10-12 ngày. Theo một số nghiên cứu của các chuyên gia y tế, những ai đã từng mắc bệnh quai bị hiếm khi mắc bệnh lại lần thứ hai. Vì sau lần mắc đầu tiên, cơ thể sẽ tạo ra một kháng thể để bảo vệ trẻ khỏi căn bệnh này suốt đời. Tuy nhiên, cha mẹ cũng không vì thế mà lơ là. Vì quai bị dễ gây ra nhiều biến chứng khác.

Bệnh quai bị thường gặp nhiều nhất vào mùa xuân, đó là thời điểm chuyển giao thời tiết sang lạnh. Những trẻ có sức đề kháng yếu rất dễ mắc bệnh quai bị. Do đó, hãy chăm sóc trẻ làm sao để có một cơ thẻ khỏe mạnh chống lại các bệnh khi thời tiết thay đổi đột ngột.

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh quai bị

Sau khi trẻ nhiễm virus, các triệu chứng của quai bị sẽ xuất hiện trong 2 tuần sau đó. Hầu hết, trẻ đều gặp các triệu chứng như: mệt mỏi, đau các cơ ở khu vực hàm, đau hàm, ho, sổ mũi, biếng ăn và sốt. Những triệu chứng này rất giống với bệnh cảm cúm nên cha mẹ phải theo dõi con đễ có hướng chữa trị cho đúng cách.

Sau khi mắc các triệu chứng trên, trong những ngày tiếp theo, trẻ sẽ sốt cao khoảng 39 độ C, tuyến nước bọt bị sưng. Đến giai đoạn này, trẻ sẽ có nguy cơ truyền virus cho người khác khi nói chuyện, hắt hơi hoặc ho.

Tuy nhiên, không phải trẻ bị quai bị nào cũng phải có các triệu trứng trên. Có đến 1/3 trẻ không có triệu trứng hoặc các triệu trứng biệu hiện rất nhẹ và khó nhận ra. Khi trẻ mắc quai bị, cha mẹ nên cách ly trẻ để tránh lây lan cho những người xung quanh và ngược lại. Đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần được cách ly thật an toàn.

Một số biến chứng của quai bị

Khi không phát hiện và điều trị đúng cách, bệnh quai bị rất dễ gây biến chứng sang những bộ phận khác của cơ thể như: não, hệ sinh sản.

Nếu mắc quai bị khi còn nhỏ, trẻ có khả năng bị điếc. Dù tỉ lệ thấp, chỉ 1/200.000 trẻ mắc bệnh nhưng nguy cơ là không tránh khỏi.

Quai bị sẽ tấn công và hệ thần kinh trung ương, khiến trẻ có nguy cơ mắc viêm màng não, viêm não, dị tật não.

Quai bị có thể khiến các bé trai bị viêm tinh hoàn. Điều này cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này.

Do đó, cha mẹ hãy chăm sóc con thật tốt để trẻ phòng tránh được bệnh quai bị.

Top 6 cách điều trị quai bị ở trẻ em

Như chúng tôi nói ở trên, bệnh quai bị chưa có cách điều trị loại virus này. Do đó, cách điều trị quai bị ở trẻ em chủ yếu là xử lý các triệu chứng cho đến khi trẻ có hệ miễn dịch có khả năng chống lại bệnh mà thôi.

Khi trẻ bị sốt, hãy lấy khăn ấm để lau qua người để hạ thân nhiệt cho trẻ. Tuyệt đối không được tắm nước lạnh trong suốt thời gian mắc bệnh. Có thể dùng khăn ấm để áp vào khu vực tuyến nước bọt và má trẻ để giảm đau.

Nên cho trẻ ăn những món dễ nuốt, không phải nhai nhiều như: cháo, súp,… tránh chạm vào vết sưng trong vòm họng. Nếu quá đau, có thể ăn bằng ống hút.

Hãy cho trẻ uống thật nhiều nước để giảm nhiệt độ. Bổ sung các chất dinh dưỡng cho trẻ, tăng sức đề kháng như sữa, nước ép hoa quả,… Có thể súc miệng bằng nước muối sinh lý để đỡ bị khô miệng.

Không cho trẻ chạy nhảy, nô đùa và hoạt động mạnh vì rất dễ dẫn đến các biến chứng xuống tinh hoàn.

Theo dõi thường xuyên các biểu hiện khi trẻ mắc quai bị. Khi trẻ bị choáng váng, nôn thì cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ để có phương án xử lý kịp thời.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bệnh Quai Bị: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Quai Bị trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!