Xu Hướng 12/2022 # Bệnh Bạch Cầu: Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Chẩn Đoán Bệnh / 2023 # Top 18 View | Zqnx.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Bệnh Bạch Cầu: Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Chẩn Đoán Bệnh / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Bệnh Bạch Cầu: Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Chẩn Đoán Bệnh / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bệnh bạch cầu hay bệnh Leukemia là một loại ung thư máu. Bệnh nhân mắc bệnh này có sự gia tăng bất thường về số lượng bạch cầu. Và phá hủy hệ thống tạo máu bình thường của tủy xương. Giảm số lượng hồng cầu và tiểu cầu. Và hệ thống máu hoạt động khác nhau.

Phương pháp điều trị bệnh bạch cầu sẽ phụ thuộc vào loại ung thư. Điều này bao gồm các yếu tố khác như tuổi tác và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân, di căn ung thư… Cùng chúng tôi tìm hiểu căn bệnh này là gì để có thể phát hiện kịp thời.

1. Các triệu chứng bệnh bạch cầu

Mỗi bệnh nhân ung thư máu có các triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại bệnh, các triệu chứng phổ biến nhất có thể quan sát được như sau.

Cảm giác yếu hoặc mệt mỏi liên tục

Sốt kèm theo ớn lạnh

Đổ mồ hôi nhiều, đặc biệt là vào ban đêm

Giảm cân không rõ lý do

Đau hoặc nhức quanh xương

Sưng hạch bạch huyế.t Đặc biệt là quanh cổ và nách. Thường không đau khớp

Gan hoặc lá lách to

Dễ chảy máu hoặc bầm tím. Có vết máu bầm trên da.

Nhiễm trùng thường xuyên

Ngoài ra, bệnh bạch cầu có thể ảnh hưởng đến các cơ quan bị ảnh hưởng hoặc có tế bào ung thư lây lan qua các chức năng như não, tim, phổi, đường tiêu hóa, thận, tinh hoàn…Và nếu tế bào ung thư di căn đến hệ thần kinh. Bệnh nhân có thể buồn nôn, nôn, nhức đầu, lú lẫn, mất kiểm soát cơ và co giật.

2. Nguyên nhân của bệnh bạch cầu

Hiện tại, giới y học vẫn chưa thể xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh ung thư máu. Nhưng đột biến được mong đợi trong DNA của các tế bào máu. Kết quả là những tế bào này phát triển bất thường và nhân lên nhanh chóng trong tủy xương. Điều này khiến bệnh nhân có ít tế bào bạch cầu bình thường và mất chức năng của hệ thống máu. Dẫn đến các triệu chứng của bệnh bạch cầu cuối cùng.

Ngoài ra, một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh bạch cầu như sau:

Có thành viên nào trong gia đình bị ung thư máu

Các rối loạn di truyền như hội chứng Down chẳng hạn.

Bị rối loạn máu, chẳng hạn như hội chứng tăng sinh tủy hoặc MDS (Hội chứng rối loạn sinh tủy (MDS)), ảnh hưởng đến việc sản xuất các tế bào máu trong tủy xương.

Đã từng điều trị ung thư bằng hóa trị hoặc xạ trị

Tiếp xúc với một số hóa chất như benzen

Tiếp xúc với một số loại bức xạ với số lượng lớn

Có thói quen hút thuốc

3. Chẩn đoán bệnh bạch cầu

Ban đầu, bác sĩ sẽ hỏi các triệu chứng. Lấy bệnh sử Và khám sức khỏe sơ bộ như kiểm tra hạch to, lá lách hay gan, kiểm tra da nhợt nhạt kết hợp khám da và mắt…

Để đánh giá xem người bệnh có nguy cơ mắc bệnh ung thư máu hay không. Và các xét nghiệm bổ sung có thể được sử dụng để xác định chẩn đoán như sau:

Xét nghiệm máu bao gồm việc thu thập các mẫu máu để kiểm tra mức độ bất thường của bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu.

Kiểm tra tủy xương Bác sĩ sẽ gây tê cục bộ và lấy một mẫu tủy xương quanh hông bằng cách sử dụng một cây kim dài. Một mẫu tủy xương sau đó sẽ được lấy để xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để tìm tế bào ung thư máu. Và kiểm tra bổ sung trong trường hợp tế bào ung thư được tìm thấy Điều này sẽ giúp xác định loại tế bào bệnh bạch cầu nào. Nó lây lan như thế nào? Và sử dụng kết quả nói trên để quyết định phương pháp điều trị thích hợp cho bệnh nhân

Chụp X quang, chẳng hạn như chụp X- quang , chụp cắt lớp vi tính (CT Scan) và chụp cộng hưởng từ mạnh (MRI Scan) để xem xét các bất thường của các hạch bạch huyết và các cơ quan nội tạng bị ảnh hưởng bởi bệnh bạch cầu. Nó cũng được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

Thâm nhập và thu thập mẫu CSF Điều này có thể dẫn đến các tế bào bệnh bạch cầu được tìm thấy lan vào màng hoặc các khu vực xung quanh não và tủy sống.

4. Kết

Bệnh bạch cầu là một căn bệnh nguy hiểm. Bạn nên thường xuyên kiểm tra sức khỏe để có thể phát hiện và điều trị kịp thời. Ngoài ra bạn cần phải tập luyện hằng ngày để nâng cao sức khỏe.

Chẩn Đoán Bệnh Nhiễm Lậu Cầu, Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Điều Trị Nhiễm Lậu Cầu / 2023

Nhiễm lậu cầu là một bệnh nhiễm khuẩn, do song cầu Gram (-) Neisseria gonorrhoeae gây nên. Bệnh lây trực tiếp qua quan hệ đường tình dục không bảo vệ đường âm đạo, hậu môn và sinh dục-miệng.

Bệnh lậu tên là Gonorrhea do ông nghĩ rằng mủ trong bệnh lậu chính là dòng tinh dịch chảy ra. Sau đó vào năm 1767 John Hunter tự cấy mủ lậu cho mình, nhưng không may chỉ có bệnh giang mai xuất hiện, do vậy đã có sự hiểu lầm về bệnh.

Hàng năm trên toàn cầu có khoảng 62 triệu trường hợp mới mắc bệnh lậu, khu vực Đông và Đông Nam Á có 29 triệu trường hợp. Việt nam, theo báo cáo hàng năm có hơn 3.000 trường hợp, tuy nhiên theo ước tính thì có khoảng vài chục ngàn trường hợp mỗi năm. Bệnh lậu tăng lên do nhiều yếu tố, trong đó có tự do tình dục và tăng hoạt động tình dục do có các biện pháp tránh thai. Nhiễm lậu cầu khuẩn chủ yếu lây qua quan hệ tình dục. Trẻ sơ sinh có thể bị viêm kết mạc mắt do đẻ qua đường sinh dục người mẹ bị bệnh.

Phòng ngừa bệnh Nhiễm lậu cầu

Cách an toàn nhất để phòng ngừa nhiễm lậu cầu hoặc những bệnh lý lây truyền qua đường tình dục khác là kiêng giao hợp. Nếu có quan hệ tình dục thì luôn luôn sử dụng bao cao su. Điều quan trọng là cởi mở với bạn tình, kiểm tra bệnh lý lây truyền qua đường tình dục đều đặn, và xem họ đã kiểm tra chưa.

Nếu bạn tình có dấu hiệu nhiễm trùng, hãy trách tiếp xúc tình dục. Khuyên họ nên đi kiểm tra để loại trừ bất kỳ bệnh nhiễm trùng nào có thể lây truyền.

Có nguy cơ mắc lậu cầu cao hơn nếu đang hoặc từng mắc bất kỳ bệnh lây truyền qua tình dục nào khác. Cũng có nguy cơ cao hơn nếu có nhiều bạn tình hoặc có bạn tình mới.

Đường lây truyền bệnh Nhiễm lậu cầu

Quan hệ qua đường tình dục không an toàn.

Lây gián tiếp thì hiếm gặp (như qua dụng cụ khám bệnh có dây mủ lậu chưa được tiệt trùng kỹ)

Lây từ mẹ sang con (mẹ bị lậu không được phát hiện điều trị, trong cuộc đẻ con chui qua đường sinh dục bị dây mủ lậu bị lậu mắt )

Triệu chứng bệnh Nhiễm lậu cầu

Những triệu chứng nhiễm lậu cầu thường xuất hiện trong khoảng từ 2 đến 14 ngày sau khi nhiễm. Tuy nhiên, một vài người bị nhiễm lậu cầu cấp chưa có biến chứng không bao giờ phát triển.

Triệu chứng nhiễm lậu cầu ở nam giới

Ở nam giới, khi bị bệnh lậu thì triệu chứng viêm niệu đạo trước là biểu hiện thường gặp nhất. Khi quan hệ tình dục với người bệnh qua đường âm đạo có khoảng 25% nam giới bị mắc bệnh. Khoảng 85% nam giới bị viêm niệu đạo do lậu sẽ biểu hiện cấp tính với các triệu chứng: khó chịu, đái buốt và ra mủ, thường kèm theo phù nề và đỏ miệng sáo. Triệu chứng ra mủ là một triệu chứng đặc hiệu của bệnh lậu, mủ màu vàng, vàng xanh, số lượng nhiều làm cho người bệnh rất lo lắng. Thời gian ủ bệnh từ 1-14 ngày, trung bình 2-5 ngày. Khoảng 25% bệnh nhân có triệu chứng không rõ, biểu hiện ra dịch niệu đạo nhưng không nhiều và màu trong, không phân biệt được với viêm niệu đạo không do lậu, một số trường hợp không có triệu chứng. Các bệnh nhân này sẽ không được điều trị và sẽ làm tăng lây truyền trong cộng đồng. Các bệnh nhân có triệu chứng nếu không điều trị thì sau vài ngày đến vài tuần sẽ giảm triệu chứng cấp tính và có thể xảy ra biến chứng tại chỗ như viêm niệu đạo sau gây đái són đau, viêm mào tinh hoàn, viêm túi tinh và tuyến tiền liệt cấp hoặc mạn, viêm tuyến Cowper, tuyến Tyson. Nhiều trường hợp bệnh nhân không có triệu chứng bệnh lý rõ ràng. Tuy nhiên, dù có hay không có triệu chứng mà không được điều trị thì đều có thể xảy ra biến chứng.

Triệu chứng nhiễm lậu cầu ở nữ giới

Tỷ lệ nữ bị mắc bệnh lậu sau một lần quan hệ tình dục với đàn ông bị bệnh vào khoảng 60-80%.

Viêm ống cổ tử cung là biểu hiện đầu tiên của bệnh lậu nữ. Niệu đạo cũng bị nhiễm lậu cầu (70-90%). Các tuyến Skene và Bartholin cũng thường bị nhiễm trùng. Thời gian ủ bệnh của bệnh lậu ở nữ là không rõ ràng nhưng thông thường trong khoảng 10 ngày. Người bệnh có các triệu chứng thường thấy là ra khí hư nhiều, tiểu khó, ra máu giữa kỳ kinh, rong kinh. Biểu hiện các triệu chứng có thể rất nhẹ hoặc rầm rộ. Một số biểu hiện khi khám có thể không thấy biểu hiện bất thường ở cổ tử cung, nhưng nhiều bệnh nhân cổ tử cung ra mủ hoặc mủ nhầy, có màu đỏ và sưng phù nề vùng ngoài cổ tử cung và khi chạm vào rất dễ chảy máu. Ở niệu đạo có thể thấy mủ, các tuyến quanh niệu đạo, tuyến Bartholin.

Bệnh lậu ở phụ nữ có thai không khác bệnh lậu ở phụ nữ không có thai. Tuy nhiên, có thể nhận thấy phụ nữ có thai ít bị viêm tiểu khung hơn và hay gặp lậu hầu họng hơn. Một số biến chứng ở phụ nữ có thai thường xảy ra là sảy thai tự nhiên, vỡ ối sớm, đẻ non, viêm cấp màng ối rau, viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh, viêm hầu họng.

Viêm âm hộ do lậu ở trẻ em gái: có thể gặp ở bé gái bị hiếp dâm, do dùng chung khăn, chậu bị nhiễm lậu khi vệ sinh bộ phận sinh dục. Biểu hiện lâm sàng: âm hộ viêm đỏ có mủ vàng xanh kèm theo đái buốt.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Nhiễm lậu cầu

Tiền sử quan hệ tình dục với người bị bệnh.

Triệu chứng lâm sàng:

Ở nam giới: mủ chảy từ trong niệu đạo, số lượng nhiều, màu vàng đặc hay vàng xanh, đái buốt, có thể kèm theo đái dắt. Viêm toàn bộ niệu đạo: đái dắt, đái khó kèm theo sốt, mệt mỏi.

Ở nữ giới: không biểu hiện triệu chứng rõ ràng mà thường kín đáo, thậm chí không biểu hiện triệu chứng bệnh (trên 50% trường hợp) vì vậy họ không biết mình bị bệnh nên dễ lây lan cho người khác. Biểu hiện cấp tính: đái buốt, mủ chảy ra từ niệu đạo, từ cổ tử cung màu vàng đặc hoặc vàng xanh số lượng nhiều, mùi hôi. Bệnh nhân đau khi giao hợp, đau bụng dưới. Khám thấy cổ tử cung đỏ, phù nề, chạm vào chảy máu. Mủ chảy ra từ ống cổ tử cung. Có thể thấy niệu đạo đỏ, có mủ từ trong chảy ra hoặc có khi chỉ có dịch đục.

Xét nghiệm:

Nhuộm Gram: kết quả thấy song cầu Gram (-) trong bạch cầu đa nhân trung tính.

Nuôi cấy.

PCR (Polymerase Chain Reaction) với lậu cầu (+).

Các biện pháp điều trị bệnh Nhiễm lậu cầu

Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ về tình dục lành mạnh, tình dục an toàn để phòng nhiễm bệnh lậu và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, trong đó có HIV/AIDS. Bao cao su có hiệu quả trong phòng mắc bệnh lậu khi dùng đúng cách.

Bệnh nhân mắc bệnh lậu khi đến các cơ sở y tế được khám, điều trị, tư vấn và giữ bí mật.

Bệnh nhân lậu không có chế độ cách ly.

Điều trị cho cả bạn tình của bệnh nhân.

Điều trị sớm. Không quan hệ tình dục, không uống rượu bia và chất kích thích, không làm thủ thuật tiết niệu trong thời gian điều trị.

Quan hệ tình dục: là con đường lây nhiễm chủ yếu nên bệnh lậu gặp nhiều ở các cô gái làm nghề mại dâm, các đối tượng nam có nhu cầu mại dâm, đồng tính nam,…Việc quan hệ tình dục không chỉ lây nhiễm qua đường âm đạo mà còn bằng đường miệng, quan hệ qua hậu môn đều có thể lây nhiễm.

Lây từ mẹ sang con: Người mẹ bị mắc bệnh trước đó hoặc mang thai với biết mình mắc bệnh thì sau khi sinh con ra, con có nguy cơ nhiễm bệnh là rất cao. Vi khuẩn bệnh lây nhiễm từ mẹ sang con qua 3 con đường: nhiễm trùng nước ối, nhiễm trùng qua âm đạo hoặc khi trẻ em bú sữa mẹ và nhiễm trùng.

Qua tiếp xúc vết thương hở với người bị bệnh thì người bình thường cũng có thể nhiễm vi khuẩn lậu.

Ngoài ra còn do sử dụng chung đồ cá nhân với người mắc bệnh: quấn áo, đồ lót, khăn tắm, kim tiêm thì người bình thường cũng có nguy cơ lây bệnh cao.

Đối tượng nguy cơ bệnh Nhiễm lậu cầu

Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất ở lứa tuổi 15-35. Bệnh gặp nhiều hơn ở đô thị, một số nhóm dân cư đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học bệnh lậu như gái mại dâm, khách làng chơi, người nghiện ma tuý.

Tỷ lệ nam giới bị mắc bệnh lậu sau một lần quan hệ tình dục qua âm đạo với phụ nữ bị bệnh là 20-30%. Trái lại, tỷ lệ phụ nữ bị bệnh sau một lần quan hệ tình dục với nam bị bệnh là 60-80%. Nguy cơ lây truyền qua các đường tình dục khác không được rõ. Phụ nữ dùng thuốc tránh thai hormon có nguy cơ cao hơn nhiễm bệnh, dùng chất diệt tinh trùng có tác dụng diệt lậu cầu.

Copyright © 2019 – Sitemap

Chẩn Đoán Và Phân Loại Bệnh Bạch Cầu Cấp (20Cd) / 2023

CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN LOẠI BỆNH BẠCH CẦU CẤP (20CD)

Bệnh bạch cầu cấp (AL – acute leukemia) là nhóm bệnh lý ác tính do sự chuyển dạng bất thường của các tế bào đầu dòng tạo máu. Bệnh đặc trưng bởi tăng sinh một cách không kiểm soát nhưng không biệt hóa hoặc biệt hóa bất thường của các tế bào non, dẫn đến tích tụ những tế bào này trong tủy xương và lấn áp hoàn toàn các tế bào bình thường khác.

Xét nghiệm chẩn đoán và phân loại nhóm bệnh lý bạch cầu cấp bằng kỹ thuật Flow cytometry được áp dụng rộng rãi trên thế giới, là một phương tiện hữu hiệu giúp chẩn đoán và phân nhóm bệnh bạch cầu cấp, đặc biệt trong những trường hợp hình thái học không thể phân biệt (Ví dụ: phân biệt bệnh bạch cầu cấp dòng lympho B và bệnh bạch cầu cấp dòng lympho T) . Kỹ thuật phân tích sự biểu hiện của các kháng thể có gắn huỳnh quang khi kết hợp với các tế bào trong mẫu thông qua hệ thống máy tế bào dòng chảy (flow cytometry). Từ các biểu hiện huỳnh quang, các quần thể tế bào trong mẫu sẽ được xác định.

Mẫu cho xét nghiệm Chẩn đoán và phân loại bệnh bạch cầu cấp là mẫu dịch tủy xương. Trong một số trường hợp không thể lấy tủy xương, có thể sử dụng mẫu máu toàn phần hoặc mẫu dịch (lưu ý: chỉ sử dụng mẫu máu hoặc mẫu dịch khi có sự hiện diện của tế bào blast).

Quy cách mẫu: 2 mL mẫu tủy xương hoặc mẫu máu toàn phần trong ống chống đông bằng EDTA.

Chi phí xét nghiệm: 9 140 000 VNĐ/ đối với mẫu tủy xương.

8 420 000 VNĐ/ đối với mẫu máu toàn phần/ mẫu dịch

Cách thức giao nhận mẫu:

Cách 1: Nếu chỉ gửi mẫu xét nghiệm, vui lòng đến của BV.TMHH, 118 Hồng Bàng, P. 12, Q. 5.

Cách 2: Nếu chuyển bệnh nhân đến để lấy mẫu xét nghiệm, vui lòng đến của BV.TMHH, địa chỉ: 201 Phạm Viết Chánh, P. Nguyễn Cư Trinh, Q. 1.

Lưu ý: Để được thanh toán BHYT, vui lòng đến Cơ sở 2 của BV.TMHH. Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ: Bộ phận Dấu ấn Miễn Dịch (028) 39 571 342 (Số nội bộ 181).

Hoàng Thị Tuệ Ngọc

Bạch Hầu Thanh Quản: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị / 2023

Tổng quan bệnh Bạch hầu thanh quản

Bệnh bạch hầu thanh quản là các trường hợp mắc bệnh bạch hầu mà vị trí khởi đầu nơi vi khuẩn sinh sản là thanh quản. Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở các tuyến hạnh nhân, mũi, hầu họng và thanh quản. Bệnh có thể xuất hiện trên da hoặc các niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc niêm mạc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh biểu hiện tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh hầu hết là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu (Corynebacterium diphtheria) gây ra. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng trẻ 2-7 tuổi là hay gặp nhất nên thường được biết đến với tên bạch hầu thanh quản ở trẻ em. Nguồn lây chủ yếu là người bệnh sang người lành khi tiếp xúc trực tiếp nói chuyện, ho hắt hơi… Trên lâm sàng, bệnh bạch hầu còn có thể gặp các thể khác như bạch hầu mũi, bạch hầu họng-amidan… Tuy nhiên, bạch hầu thanh quản chiếm khoảng 1/4 các trường hợp, có thể bạch hầu tiếp tục lan xuống nhưng cũng có thể do bệnh tại chỗ. Bạch hầu thanh quản phổ biến ở trẻ còn bú.

Trẻ mắc bệnh bạch hầu thanh quản nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thần kinh và thận, đặc biệt có nguy cơ gây tắc nghẽn đường hô hấp dẫn đến hôn mê và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Đây là bệnh có nhiều biến chứng rất nguy hiểm, vậy nên khi bị bạch hầu thanh quản cần được điều trị tích cực tại cơ sở y tế và theo dõi các biến chứng của bệnh tránh tử vong do tắc thở và đột ngột trụy tim mạch.

Nguyên nhân bệnh Bạch hầu thanh quản

Nguyên nhân gây bệnh bạch hầu thanh quản đã được xác định đó là do vi khuẩn bạch hầu Corynebacterium diphtheriae. Vi khuẩn bạch hầu là một trực khuẩn gram dương có tính hiếu khí và không di động. Vi khuẩn chỉ sản xuất được ngoại độc tố khi chính bản vi khuẩn này bị nhiễm một loại virus đặc biệt gọi là thực khuẩn bào (bacteriophage). Trên lâm sàng chỉ có những chủng vi khuẩn có khả năng sinh độc tố mới gây bệnh có các biến chứng nguy hiểm. Khi soi dưới kính hiển vi, vi khuẩn bạch hầu rất mảnh có dạng hình dùi trống hoặc hình que và sắp xếp đặc trưng như hình hàng rào. Vi khuẩn bạch hầu chia làm ba typ là gravis, intermedius và mitis theo thứ tự khả năng gây bệnh giảm dần. Cả ba type vi khuẩn đều có khả năng sinh độc tố nhưng thể bệnh nặng thường do type gravis gây ra.

Tất cả các typ vi khuẩn bạch hầu đều nhạy cảm với các yếu tố vật lý, hoá học. Dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp, vi khuẩn sẽ chết sau vài giờ, ánh sáng trong nhà sẽ bị diệt sau vài ngày. Tại nhiệt độ 580C vi khuẩn sống được khoảng 10 phút, ở môi trường phenol 1% và cồn 60 độ vi khuẩn chỉ có thể sống được 1 phút. Bản chất của ngoại độc tố bạch hầu là một loại protein có tính kháng nguyên đặc hiệu, độc tính cao và chịu nhiệt kém. Ngoại độc tố của các typ vi khuẩn bạch hầu khác nhau đều giống nhau. Ngoại độc tố bạch hầu khi được xử lý bằng nhiệt độ và formol sẽ mất độc lực, được gọi là giải độc tố dùng làm vắc xin để tiêm phòng bệnh.

Triệu chứng bệnh Bạch hầu thanh quản

Các dấu hiệu và triệu chứng bệnh bạch hầu thanh quản thường bắt đầu từ hai đến năm ngày sau khi bị nhiễm bệnh và có thể bao gồm:

Sốt và ớn lạnh.

Khó chịu ở trẻ thường biểu hiện quấy khóc, bỏ bú.

Chảy nước mũi.

Khó thở và thở nhanh đặc biệt ở trẻ còn bú do trẻ khó thở nên khi bú trẻ phải dừng lại để thở.

Sưng các hạch ở cổ.

Ho ông ổng (barking cough).

Khàn tiếng.

Xuất hiện một màng màu xám dày vùng họng.

Bạch hầu thanh quản là thể bệnh nặng tiến triển nhanh và cực kỳ nguy hiểm. Do thanh quản là nơi hẹp nhất của đường thở nên nếu màng giả mạc phát triển ở đây, nguy cơ gây tắc nghẽn đường thở rất nhanh đưa đến hôn mê và tử vong.

Đường lây truyền bệnh Bạch hầu thanh quản

Vi khuẩn bạch hầu lây truyền qua các con đường sau:

Giọt bắn trong không khí. Khi một người bị nhiễm bệnh hắt hơi hoặc ho ra các giọt bắn mang vi khuẩn, những người ở gần đó có thể hít phải và nhiễm vi khuẩn bạch cầu. Thực tế bệnh bạch hầu chủ yếu lây lan theo cách này, đặc biệt ở những nơi tập trung đông người.

Vật dụng cá nhân bị nhiễm bệnh. Bệnh bạch hầu cũng có thể lây qua tiếp xúc hoặc sử dụng các vật dụng bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu.

Đồ gia dụng bị ô nhiễm. Trong những trường hợp hiếm hoi, bệnh bạch hầu lây lan trên các vật dụng gia đình dùng chung, chẳng hạn như khăn hoặc đồ chơi.

Ngoài ra có thể tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh bạch hầu bằng cách chạm vào vết thương bị nhiễm trùng.

Những người đã bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu và chưa được điều trị có thể lây nhiễm cho những người không mắc bệnh trong vòng sáu tuần – ngay cả khi họ không có bất kỳ triệu chứng nào.

Đối tượng nguy cơ bệnh Bạch hầu thanh quản

Những người có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu thanh quản gồm:

Trẻ em và người lớn không được tiêm chủng.

Điều kiện sinh hoạt đông đúc hoặc mất vệ sinh.

Đi qua hoặc sinh sống tại một khu vực đang có dịch bệnh bạch hầu.

Ngày nay bệnh bạch hầu hiếm khi xảy ra ở Hoa Kỳ và Tây Âu, nơi có tỷ lệ tiêm chủng vắc-xin cao cho trẻ để phòng chống bệnh bạch hầu trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, bệnh bạch hầu vẫn còn phổ biến ở các nước đang phát triển nơi tỷ lệ tiêm chủng thấp. Ở những nơi có tỷ lệ tiêm vắc-xin bạch hầu cao, căn bệnh này chủ yếu là mối đe dọa đối với những người chưa được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không đầy đủ, những người đi du lịch nước ngoài hoặc tiếp xúc với những người bệnh từ các nước kém phát triển.

Phòng ngừa bệnh Bạch hầu thanh quản

Trước khi có thuốc kháng sinh, bạch hầu là một bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ. Ngày nay, căn bệnh này không chỉ có thể chữa được mà còn có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin.

Vắc-xin bạch hầu thường được kết hợp với vắc-xin uốn ván và ho gà (ho gà). Vắc-xin ba trong một được gọi là vắc-xin bạch hầu, uốn ván và ho gà. Phiên bản mới nhất của vắc-xin này được gọi là vắc xin sáu trong một phòng các bệnh sau: bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, các bệnh gây ra do hib và bại liệt. Vắc-xin bạch hầu, uốn ván và ho gà là một trong những loại vắc-xin mà các bác sĩ tại Hoa Kỳ khuyên dùng trong thời kỳ sơ sinh. Tiêm vắc-xin bao gồm một loạt năm mũi tiêm, thường được tiêm ở cánh tay hoặc đùi cho trẻ em ở các độ tuổi:

Vắc-xin bạch hầu có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh bạch hầu. Nhưng có thể có một số tác dụng phụ. Một số trẻ có thể bị sốt nhẹ, quấy khóc, buồn ngủ hoặc đau tại chỗ tiêm sau khi tiêm vắc-xin. Hiếm khi, vắc-xin bạch hầu gây ra các biến chứng nghiêm trọng ở trẻ, chẳng hạn như phản ứng dị ứng (nổi mề đay hoặc phát ban trong vòng vài phút sau khi tiêm), co giật hoặc sốc – biến chứng có thể điều trị được.

Một số trẻ em – chẳng hạn như những trẻ bị động kinh hoặc một số bệnh lý thần kinh khác không nên tiêm loại vắc-xin này.

Sau loạt tiêm chủng ban đầu ở thời ấu thơ, cần tiêm nhắc lại vắc-xin bạch hầu để giúp duy trì khả năng miễn dịch. Do khả năng miễn dịch đối với bệnh bạch hầu mất dần theo thời gian.

Trẻ em được tiêm chủng khuyến cáo trước 7 tuổi nên được tiêm mũi nhắc lại đầu tiên vào khoảng 11 hoặc 12 tuổi. Lần tiêm nhắc tiếp theo được khuyến nghị 10 năm sau, sau đó lặp lại sau khoảng thời gian 10 năm. Việc tiêm nhắc lại đặc biệt quan trọng nếu bạn đi đến một khu vực thường gặp bệnh bạch hầu.

Vắc-xin nhắc lại bạch hầu thường được kết hợp với vắc-xin uốn ván (Td). Vắc-xin kết hợp này thường được tiêm vào cánh tay hoặc đùi.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Bạch hầu thanh quản

Chẩn đoán bệnh bạch hầu họng được xác định qua các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng. Ngay sau khi khám bệnh, nếu nghĩ đến bạch hầu (dựa vào các đặc điểm về dịch tễ, miễn dịch, biểu hiện lâm sàng) thì xét nghiệm quan trọng nhất là lấy giả mạc hoặc bệnh phẩm ở chỗ tổn thương nghi ngờ bạch hầu. Tuy nhiên nếu trên lâm sàng nghi ngờ bạch hầu thì nên tiến hành điều trị ngay mà không cần chờ kết quả cận lâm sàng.

Xét nghiệm nhanh vi khuẩn bạch hầu nhờ vào nhuộm soi Gram. Vi khuẩn có thể bắt màu nhuộm Gram dương, mảnh, hình dùi trống, sắp xếp theo kiểu hình hàng rào. Khi xét nghiệm không tìm thấy vi khuẩn bạch cầu trong khi nhuộm soi cũng không thể loại trừ nguyên nhân bạch hầu.

Chẩn đoán xác định phải dựa vào việc cấy và định danh vi khuẩn nhưng quá trình này thường đòi hỏi thời gian lâu hơn. Ngoài việc nuôi cấy nhằm phân lập vi khuẩn bạch hầu thì bệnh phẩm thường được nuôi cấy trên đĩa thạch để tìm liên cầu tan huyết beta do loại vi khuẩn này cũng gây biểu hiện tại hầu họng tương tự bạch hầu.

Các biện pháp điều trị bệnh Bạch hầu thanh quản

Bạch hầu họng là một bệnh nghiêm trọng. Bệnh nhân cần được điều trị ngay lập tức và tích cực với các loại thuốc sau:

Nếu nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu, trẻ em hoặc người lớn bị nhiễm sẽ được sử dụng một loại chống độc tố bạch cầu. Thuốc kháng độc tố, được tiêm vào tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, trung hòa độc tố bạch hầu đã lưu hành trong cơ thể. Trước khi cho uống thuốc kháng độc tố, nên thực hiện các xét nghiệm dị ứng da để đảm bảo rằng người bệnh không bị dị ứng với thuốc kháng độc tố.

Với những trường hợp bị dị ứng trước tiên phải được giải mẫn cảm với thuốc kháng độc tố. Giải mẫn cảm được thực hiện bằng cách ban đầu cho liều nhỏ thuốc kháng độc tố và sau đó tăng dần liều lượng.

Kháng sinh.

Bạch hầu cũng được điều trị bằng kháng sinh. Thuốc kháng sinh giúp tiêu diệt vi khuẩn trong cơ thể, làm sạch nhiễm trùng.

Trẻ em và người lớn mắc bệnh bạch hầu thường cần phải vào bệnh viện để điều trị. Các trường hợp mắc bệnh có thể được cách ly đặc biệt vì bệnh bạch hầu có thể lây lan dễ dàng đến bất kỳ ai không được chủng ngừa bệnh.

Trong trường hợp bạch hầu thanh quản đến muộn có dấu hiệu bít tắc đường hô hấp cần thực hiện bóc tách giả mạc giúp thông đường hô hấp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bệnh Bạch Cầu: Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Chẩn Đoán Bệnh / 2023 trên website Zqnx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!